Monday, January 28, 2008

Tết

Có lẽ Tết với người ở trong nước, đặc biệt là giới trẻ càng ngày càng bớt quan trọng đi, nhưng với người đã 7 năm không được đón Tết ở Hà Nội, niềm hy vọng nhỏ nhoi được đón cái Tết thứ tám ở quê nhà cũng tán thành mây khói khi phải rời Hà Nội trước Tết 3 tuần. Và người xa quê vẫn phải day dứt tự hỏi rằng cái gì khiến người ta luôn hướng về quê cha đất tổ mỗi dịp xuân về?
Xuân đầu tiên xa nhà, khi một mình sống trên đất khách, người con xa quê muốn òa khóc khi gọi điện về đêm giao thừa. Để rồi thời gian cũng qua đi, người ta cũng quen dần, để hòa mình đón Tết cùng những kiều bào ở xứ người. Cũng có những hội chợ Tết, bánh chưng, dưa hành, cũng là không khí trang nghiêm đón giao thừa tại ngôi chùa Việt Nam, để được nghe tiếng tụng kinh niệm phật trong mùi thơm ngát của hương trầm và xôn xao những lời chúc mừng năm mới bằng tiếng Việt thân thương, cả xen lẫn tiếng pháo nổ rộn ràng đón xuân mới. Nhưng dường như con người ta vẫn cảm thấy thiếu một cái gì đó trong lòng người xa quê, để mỗi năm vào dịp xuân về, hàng triệu người kiều bào vẫn đổ về đất mẹ mong hưởng cái Tết nơi quê nhà?
Tết ở quê hương bây giờ đã khác xưa nhiều lắm. Khi người ta có quá nhiều việc phải làm trong một xã hội phát triển và quá nhiều thú vui, thời gian chuẩn bị Tết cũng không có nhiều thì Tết ngày càng tầm thường đi. Khi ăn uống là nỗi sợ hãi với nhiều người, thì việc háo hức với những nồi bánh chưng, giò thủ, nồi măng hầm chỉ còn là chuyện của thời dĩ vãng. Với lũ trẻ, những buổi chơi tam cúc, tú lơ khơ thâu đêm với những củ khoai , củ sắn nướng vùi để canh nồi bánh chưng đã thành chuyện cổ tích , nhường chỗ cho những cuộc chơi thâu đêm trong bar hay club. Người ta có thể ăn uống bất cứ lúc nào, sắm sửa quần áo mới khi người ta thích, và bận rộn công việc đến tận sát hôm 30 để rồi phải sử dụng mọi thứ dịch vụ để chỉ cần sắm Tết trong một ngày chứ không còn tất bật chuẩn bị trước hàng tháng trời như thời xưa. Tết, với nhiều người là một chuỗi mệt mỏi vì phải làm các nghĩa vụ lễ lạt, đi thăm viếng họ hàng. Họ cố tận dụng những ngày Tết để ngủ bù, để đi chơi du lịch và tránh những thủ tục rườm rà phiền phức đến phát mệt. Vậy thì ngày Tết ở quê nhà có gì níu kéo để người ta phải vượt qua hàng ngàn cây số kéo nhau trở về?
Có chứ, cho dù ai có bận rộn đến đâu, chỉ cần đi trên phố, ta có thể hít thở được không khí Tết rậm rịch từ đầu tháng Chạp. Trên từng góc phố ở thành thị, từng khu chợ làng quê, không khí Tết đã hiện diện ở những sạp hàng quà Tết bày ê hề khiến cho người vô tình cũng không thể quên được mùa xuân đang đến gần. Dường như trên các tuyến phố, mỗi dịp Tết lại như khoác trên mình một chiếc áo mới, màu mè và điệu đàng hơn. Đồ cúng lễ Hàng Mã, những vật phẩm quà tết Hàng Than, Hàng Điếu, đến chợ hoa Hàng Lược, chợ cây Bưởi, nhịp sống của những ngày giáp tết đường như cuốn mọi người vào một guồng quay hối hả hơn. Ai cũng muốn làm xong những việc dự định làm để đón một năm mới thành thơi. Người ta muốn thành thơi, để được thoát ra khỏi cái đông đúc, ngột ngạt của phố thị đi ngắm những luống hoa, những vườn đào, vườn quất Nhật Tân, Tứ Liên hay Tây Tựu đã được sẵn sàng cho mùa xuân đến. Mọi buồn bực, xui xẻo của năm cũ sẽ được quên đi, để mong cho một năm mới tốt đẹp hơn. Cái không khí xôn xao của những hội chợ Tết, chợ hoa, cái chen chúc của những siêu thị bán hàng khi giáp Tết, của những chuyến tàu, chuyến xe đầy ắp người về thăm quê, những cái đó không dễ gì có được ở xứ người!
Nhưng cái quan trọng hơn là Tết là để sum họp gia đình, để hướng về tổ tiên cội nguồn. Người dù đi xa đến đâu, cũng mong ngày Tết để trở về quê trên những chuyến tàu xe xuôi ngược đầy ắp những người là người vào Nam ra Bắc. Chả thế mà những người con đi xa chỉ mong dịp giáp Tết về để đi thắp hương lên mộ ông bà tổ tiên. Dẫu rằng chuyện ăn uống bây giờ không còn quan trọng , thì những bữa liên hoan gặp mặt gia đình, họ hàng ngày Tết, sau cả năm không nhìn thấy mặt nhau, để được hàn huyên chuyện làm ăn năm cũ, những dự định cho năm mới, càng làm cho máu mủ cảm thấy gần nhau hơn. Người đi xa luôn mong về những đêm giao thừa, để được đón năm mới trong cái giao hòa của trời đất, để được hái lộc xuân và quây quần bên ông bà, cha mẹ sau giao thừa với những lời chúc an khang thịnh vượng, một năm mới an lành. Những lời chúc ấy, có thể có ý nghĩa bất cứ lúc nào nhưng nếu nó diễn ra trong thời khắc thiêng liêng của mùa xuân, mùa đâm chồi nảy lộc , mùa bắt đầu một sự sống mới, thì bao giờ cũng mang ý nghĩa bội phần.
Không biết có một vị giáo sư khả kính đã đề nghị chuyện ngày Tết cổ truyền âm lịch sang theo lịch phương Tây, của năm dương lịch, để tiết kiệm thời gian và phù hợp với giao lưu hội nhập quốc tế. Không phải là ông không có lý, nhưng dường như ông quên một điều rằng, truyền thống Á đông làm cái gì cũng thuận theo trời-đất và người, theo tiết trời, theo mùa để Tết âm lịch là tiết của mùa xuân,là mùa khởi mầm của vạn vật, ông bà tổ tiên kỷ niệm ngày tết cũng chính là vì lý do đó. Trong mâm cúng đêm giao thừa, người ta sẽ cảm nhận được cái thiêng liêng, như hít thở được hơi ấm của đất, mùi ẩm ướt của tiết trời mùa xuân trong mùi hương trầm của đêm Tất niên, chứ không phải là cái lạnh rét mướt của mùa đông của lễ Noel và Tết dương lịch. Người ta cũng mong được thưởng thức những chén rượu, chung trà bên những cành đào, cành mai nở đúng độ hay cây quất “tứ quý” một cách tự nhiên để đón giao thừa. Người ta cũng mong được ngắm nhìn cái tiết trời mùa xuân của Hà Nội, được thảnh thơi đi trên những đường phố Hà Nội ngày mùng 1, vắng vẻ và yên tĩnh một cách hiếm hoi, để rồi sau đó lại ở trong cái ấm áp, đôi khi đến ngột ngạt của mùi hương, của đám đông những người đi lễ trong các chùa, các đền và phủ. Rồi mừng 2 mùng 3, lại được hòa lẫn trong những dòng người, nam thanh nữ tú trên các phố đổ ra đường đi thăm bạn bè, họ hàng trong tiết trời ấm áp, ẩm ướt của mùa xuân. Nếu ai có thời gian, sau mùng 4 người ta sẽ về các làng quê để được nghe những câu quan họ, hát về, hát đối, những trò chơi dân gian trong các lễ hội làng truyền thống.
Xã hội ngày càng bận rộn, khi người ta phải quay cuồng với nhịp sống hiện đại để làm ăn, càng ít thời gian quan tâm chăm sóc nhau, dịp lễ Tết dường như là một chặng nghỉ, là dịp để người ta quên đi những cái mệt mỏi của đời thường, để tìm lại những tình cảm họ hàng, gia đình, để gần gũi và đối xử với nhau tử tế hơn. Cũng nhờ đó, người ta tìm lại những giá trị tinh thần có truyền thống, những tập tục dân gian dường như đang phai dần đi theo nhịp sống hằng ngày, để thế hệ sau đủ tỉnh táo để biết và gìn giữ những giá trị tinh hoa nhất của tổ tiên để lại, bỏ đi những hủ tục rườm rà không phù hợp với xã hội hiện đại . Năm mới là lúc để người ta xí xóa những cái gì là không tốt, là không vui của năm cũ để bắt đầu lại một năm mới với hy vọng mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn. Những điều đó khiến ngày Tết, cho dù có phần nào giảm bớt vai trò trong tập tục sinh hoạt của người Việt, nhưng chắc chắn sẽ không thể mất đi những gì là tinh túy, những bản sắc của ngày lễ hội tinh thần lớn nhất của năm, vì nó đã ăn sâu vào tâm hồn , vào chất của mỗi dòng máu Việt.
Và mọi người dân Việt, dù ở phương trời nào, luôn mong ngóng mỗi dịp khi xuân về, Tết đến, để khi đó cảm thấy tinh thần mình trỗi dậy chất “Việt” nhất, và mỗi khi có dịp, về đón xuân mới trên đất mẹ quê hương!
Montreal, 28/1/ 2008
(http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/mua-khoi-mam-cua-van-vat)

Gió mùa


Gió mùa đông bắc về! Hà Nội giữa mùa đông sau một đợt nóng chảy mỡ đã trở về là chính mình. Người người đã phải khoác lên mình những áo len, áo khoác mùa đông như thường thấy phải có hàng năm vào đợt này, có khác chăng là không có mũ len mà là mũ bảo hiểm. Cái lạnh bất chợt, trời đất khô trắng xóa gợi nên một vẻ man mác như gió mùa của Thạch Lam. Tiết trời khô khô, se se lạnh phủ lên mình Hà Nội một dáng vẻ xưa cũ, dễ làm xao lòng những người Hà Nội hoài cổ. Tối thứ 7 của mùa đông Hà Nội không còn những dòng người đông nghịt bên bờ hồ Hoàn Kiếm, trả lại những buổi sáng sớm nhìn ra hồ Thuyền Quang thấy vắng vẻ như Hà Nội của thời rất lâu rồi. Cái lạnh đâu có thấm gì so với lạnh của những -20 , -30 độ C nhưng vẫn làm người ta cảm thấy rùng mình? Trong ký ức của một người đi xa, thì dường như anh ta vẫn níu kéo thời gian của Hà Nội những năm về trước, khi bắt đầu ra đi, để cứ nghĩ (hay tưởng tượng) ra rằng mình trẻ mà không biết rằng thời gian đã trôi đi khá dài. Trí óc anh ta luôn cố gắng tìm về những hoài niệm cũ , mong tìm về những thời gian đã xa lắc trong khi Hà Nội đã thay đổi, và con người anh ta cũng thay đổi. Để rồi liệu anh ta có thất vọng? Liệu anh ta có chấp nhận Hà Nội hiện tại để hòa mình vào cuộc sống vốn có, hay vẫn muốn để giữ nguyên hình ảnh Hà Nội cổ xưa trong ký ức ngọt ngào? Khi người ta chưa thể tìm được nơi trú ngụ cho mình, thì quê hương với anh ta vừa thân quen vừa xa lạ.
Chỉ có gió mùa của Hà Nội là không thay đổi, vẫn lạnh buốt như thấm vào da thịt, để người cô đơn cảm thấy tê tái hơn, và người yêu nhau xích lại gần nhau hơn.

Nhớ em...


Thế là tôi với em quen nhau đã hơn một năm. Ban đầu tôi thích em không phải vì em đẹp, thời trang, sành điệu lòe loẹt mà vì trông em thật giản dị và được sinh ra trong một gia đình truyền thống và có tên tuổi. Tôi là chúa ghét lòe loẹt, simple but elegant mà. Gần em, tôi lại càng thấy thích em hơn, em không chảnh, không sớm nắng chiều mưa trưa chờ tuyết rơi, rất modest và biết điều. Mọi thứ về em tôi đều hài lòng, phù hợp với thằng sinh viên nghèo rớt như tôi. Em luôn ở bên tôi khi vui, buồn, xem phim, nghe nhạc giải trí, trừ lúc tôi làm việc ở trường thì em lại chả bao giờ quấy rầy. Tôi cũng chỉ hy vọng có người tình như em, chả mong hơn. Càng ngày tôi càng thấy gắn bó với em, và nghĩ rằng mình sẽ chung thủy với em đến khi đầu em bạc răng em long. Còn đầu tôi thì chắc chả còn sợi tóc nào để bạc, răng thì chả biết có rụng trứơc khi chia tay em không.
Vậy mà mấy hôm nay em rời bỏ tôi đi. Xa em, tôi như người mất hồn. Ngoài những lúc ở trường, về nhà không thấy hình bóng em, tôi cứ thấy hẫng hụt thế nào ấy. Trằn trọc, không ngủ được vì thiếu em. Vắng em, tôi như giam mình cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Không chát chít, chẳng email, không báo lá cải , không forum blog gì cả. Cả nghe nhạc cũng hạn chế, vì vắng em mà nghe nhạc một mình với ipod thì tôi chả thấy hay. Buồn thế.
Tôi không ngờ là mới có một thời gian ngắn ngủi mà tôi đã gắn bó với em như thế, dường như tôi không thế sống thiếu em lúc này, em biết không! Tôi mong từng ngày từng giờ em trở lại với tôi, tôi hứa sẽ luôn ở bên em cho đến khi nào em quyết rời bỏ tôi đi.
Quay về với tôi em nhé, người tình Toshiba của tôi.

Nước chấm và rau thơm, linh hồn của món ăn Việt


Cái này ngồi trên máy bay rỗi việc lại không ngủ được, viết linh tinh.



Khi tôi nói sẽ mang nem rán đến tham dự buổi liên hoan với nhóm bạn nước ngoài, chợt nghe một người nhắc” “you should bring "nuoc mam cham”. “what?”, “ your nước mắm chấm, Vietnamese dipping source”. “Nước mắm chấm” chứ không phải “nước mắm”, câu nói hết sức chuẩn xác của người bạn Tây đã có bao năm được thưởng thức đồ ăn Việt khi sống cạnh một người phụ nữ Hà Nội gốc di cư làm tôi chợt nhận ra rằng, dường như bát nước chấm là một đặc trưng trong hầu hết các mâm cơm của người Việt, nó làm cho món Việt dường như khác với các món ăn của dân tộc khác.

Cho dù là trong bữa cơm chân quê đơn giản, bát çà pháo với đĩa rau luộc, hay đến các món nổi tiếng như bún chả, nem rán, thì bát nước mắm pha vẫn hiện diện như một phần không thể thiếu trong bữa ăn. Thịt hay çá cũng "chấm”, rau cũng phải “chấm”. Người Tây phương thường ướp sốt nấu cùng với thức ăn hoặc chỉ có loại nước tương (soya source) để “chan” vào đồ ăn chứ không "chấm” vốn chủ yếu liên quan tập tục dùng đũa của người Á Đông, nhưng ngay trong các món ăn nổi tiếng của Trung Hoa hay Nhật Bản, thì cũng không có nhiều loại “nước chấm” như người Viêt. Nước chấm, vốn chủ yếu được pha từ nước mắm nguyên chất, cùng với các loại gia vị khác đã được chế biến thành bao nhiêu loại khác nhau cho phù hợp với từng món ăn. Nước mắm chấm dấm tỏi cho bún chả, bún nem, nước chấm gừng cho ốc luộc, nước chấm chua ngọt cho gỏi, nước chấm çà cuống cho bánh cuốn, v. v., thức nào đi với bát nước chấm ấy. Một bữa ăn mà nước chấm pha dở, có lẽ sẽ làm giảm một nửa phần giá trị của các món ăn dù chuẩn bị cầu kỳ đến đâu. Một bữa cơm đạm bạc, đĩa rau muống luộc, với bát nước chấm tỏi ớt ngâm dấm, với nhiều người, cũng mang lại cảm giác ngon miệng không kém gì sơn hào hải vị. Có thể nói không quá rằng những quán ăn nổi tiếng với những món bún chả, nem rán, gỏi cuốn, ốc luộc, những món luôn làm xao lòng những “tâm hồn ăn uống”, phần làm nên sự khác biệt ngoài việc chọn nguyên liệu và chế biến các món ăn, phần lớn phụ thuộc tàï pha nước chấm của người bán hàng. “Nước chấm pha ngon có thể húp được” là câu nói hơi cường điệu nhưng có lẽ cũng có phần đúng. Không giống “plum source” như của người Trung Hoa, nước tương trộn mù tạt (wasabi) kiểu Nhật hay nước sốt çà chua kiểu người Ý, trong bát nước mắm pha, người Viêt dường như muốn thể hiện çả triết lý cuộc sống vào trong bát nước chấm, nên có đủ çả các vị chua cay mặn ngọt của cuộc đời chăng? Vị đậm đà của nước mắm nhỉ nguyên chất pha loãng với chút nước đun sôi, một chút chua thanh thanh của dấm gạo, vị ngọt của đường, vị hăng của tỏi, thơm thơm của tiêu, điểm xuyết thêm vài lát cay cay của ớt, cùng với cà rốt hay một chút chanh, tất çả quyện vào nhau tạo nên một bát nước mắm pha màu vàng óng như mật ong, với mùi vị đặc trưng không thể lẫn cho rất nhiều các món ăn Việt. Không quá mặn, không quá chua, không quá cay, không quá ngọt , cái tàï tình gia giảm của người pha nước chấm đã góp phần mang lại bản sắc độc đáo cho món Việt, không chỉ làm cho những người Việt luôn nhớ hương vị quê hương mà còn làm cho çả người nước ngoài khi đã quen với nước mắm pha, thì không thể thiếu được nó.

Khi nói đến món ăn Việt, đặc biệt là món ăn miền Bắc, ngoài bát nước mắm chấm, thì không thể không nhắc đến rau thơm. Người Tây phương thường chủ yếu ăn rau dưới dạng salad, với những súp lơ, cà rốt, hoa quả, và trộn với sốt salad (dressing). Người Trung Hoa rất hay cho các vị thuốc (bắc), cả hương liệu thảo mộc nhưng dưới dạng khô vào trong món ăn, thì người Việt lại dùng rau thơm. Rau thơm trong món ăn Việt, là khái niệm chung để chỉ đến vài chục loại rau gia vị tươi (fresh herbs) được dùng ăn sống (raw). Rau mùi, rau húng, kinh giới, ngổ đồng, mùi tàu v.v những loại rau rất dân đã được phối hợp thật tài tình để làm gia vị cho các món ăn. Và nước mắm chấm, chính là nước sốt cho rau thơm Việt. Không biết vô tình hay có chủ ý, những rau thơm bổ sung trong bữa ăn của người Viêt, không chỉ đơn thuần là gia vị làm tăng sức hấp dẫn cho món ăn, mà còn có ý nghĩa phát huy những đặc tính có lợi và giảm tác hạï của thực phẩm một cách hết sức có cơ sở khoa học. Những thực phẩm có tính nhiệt thì chắc chắn phải đi với những rau thơm có tính hàn, để trung hòa, để cân bằng “âm dương” theo đúng triết lý của người Á Đông. Thịt chó quá nhiều đạm, dứt khoát phải đi kèm với lá mơ, để tránh bị đi ngoài, trứng vịt lộn với gừng tháï chỉ có tính dương thì sẽ đi với rau răm bổ âm, để không quá nóng, đậu phụ rán luôn ăn kém kinh giới, món lòng dồi khó tiêu dứt khoát phải có rau húng. Hay món bún chả, luôn có bổ sung các loại rau mùi, húng, xà lách, kinh giới, rau muống chẻ, ăn kèm với nước mắm chấm trộn dưa góp đu đủ ça rốt, cứ như là hiển nhiên là nó phải như vậy. Phải chăng việc chọn rau thơm cho các món ăn, là kết quả của kinh nghiệm y học dân gian đúc kết từ bao đời, để ngày nay có một hượng vị ẩm thực đặc trưng của người Việt độc đáo sánh ngang với các nền văn hóa ẩm thực nổi tiếng thế giới khác.

Mỗi dân tộc có một đặc trưng riêng về cách chế biến món ăn, phù hợp với điều kiện sống và văn hóa của họ. Những món ăn Việt, với nước mắm chấm, với rau thơm, ngày càng được biết đến vì dùng nhiều rau tươi, ít thịt, ít dầu mỡ, ít đường và luôn cố gắng bảo tồn hương vị đích thực và nguyên thủy của từng loại thực phẩm rất phù hợp với khoa học hiện đại về bữa ăn dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe. Hương vị món ăn Việt thanh thoát nhẹ nhàng, đơn giản mà tinh tế, rất hiền hòa như chính tâm hồn Việt Nam, làm cho những người Việt dù sống ở đâu, dù bận rộn trong cuộc sống hiện đại thế nào, luôn phải ăn đồ ăn nhanh, thì rốt cuộc cũng luôn tìm về thưởng thức đồ ăn Việt. Phải chăng việc gìn giữ và bảo tồn văn hóa Việt, truyền bá văn hóa ra thế giới, nên bắt đầu từ những việc làm thực tế và dễ đi vào lòng người bằng việc bảo tồn, phát triển những món Việt với hương vị như nó vốn có chứ không phải là các món lai căng. Để không chỉ người Việt ở trong nước, mà çả những người kiều bào thế hệ thứ 2, thứ 3 và về sau, luôn tự hào về nền văn hóa ẩm thực độc đáo của người Việt. Và bạn bè trên khắp năm châu, luôn ấn tượng và tìm hiểu khám phá được tâm hồn Việt qua chính những món ăn đơn giản, nhẹ nhàng đầy chất Á Đông của người Việt trên khắp thế giới.

Lưu Tuấn Anh

Montréal-Toronto-Tokyo-Hanoi, tháng 12/2007

(http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=236845&ChannelID=218)