I was born in 1975 in Hanoi , capital of Vietnam, where I spent all my childhood and got my first degree in Civil Engineering from Hanoi University of Civil Engineering. After 3 years of teaching at my university, I left home city for Ottawa, capital of Canada in December 2000, living there for 2 years and 8 months for my Master of Applied Science (Structures). Then I have lived in Montreal, Quebec, Canada for my Ph.D. in Geomechanics at Mcgill University but gave up doctoral program. I lived in Calgary, Alberta to work as Civil /Structural Engineer at SNC-Lavalin Inc., Chemicals and Petroleum Business Unit. from 2008 to 2009 before coming back my home town. I have worked in Vietnam for 7 years as a Civil/Structural Engineer, QC/HSE Manager, Civil Design Manager for Thai Binh 2 Power Plant Management Board, a 2x600MW Coal-fired Power Plant Project by PETROVIETNAM in Thai binh, Vietnam. From October 2016, I came back to live in Mississauga, Ontario, Canada. I am now professional engineer, Engineering Project Manager in medical equipment planning for Colliers Project Leaders Inc.
Sau chục năm ở nước ngoài, trước khi về Hà Nội, tôi đã dự tính sẽ đi ăn một loạt các món mà xa nhà tôi nhớ, nhưng kế hoạch bị phá sản khi có lẽ thời tiết nóng nực, cộng với có lẽ là khẩu vị thay đổi hoặc một lý do vu vơ nào đó đã làm cho mọi thứ tôi muốn ăn tôi không thấy gì ngon. Nhưng có một thứ, gọi là món cũng được mà tôi không thể chán, và dù ăn ở nhà hay lang thang các món vỉa hè Hà Nội, mặc dầu đã được cảnh báo rằng có thể nguy hiểm cho cái hệ tiêu hóa vốn nhạy cảm của người đi xa nhà đã lâu, tôi vẫn cứ phải nhắm mắt vào ăn rau sống. Và tôi chợt liên tưởng giữa hai thứ: salad của nước ngoài và món rau sống Hà Nội.
Tôi vốn thích ăn salad, vì nó dễ ăn, và quan trọng là dễ làm từ bất cứ món rau quả gì sẵn có để làm giảm vị ngậy, vị béo của các món Phương Tây vốn quá nhiều thịt trong các món ăn hằng ngày. Salad có thể làm từ các loại rau củ quả xà lách, cà rốt, súp lơ nhưng cũng có thể bất cứ thứ hoa quả nào khác tùy theo người chế biến. Các loại hoa củ, quả đầy màu sắc được trộn lẫn, và dứt khoát phải thêm sốt (dressing), dressing tạo nên vị khác biệt của các loại salad , cũng là bí quyết cho những người tạo ra các món salad. Vị bùi vị béo của các loại dầu olive, của kem, của pho mát và các loại gia vị tạo nên biết bao loại các loại salad khác nhau. Cũng như bao món Phương Tây, cách bài trí cầu kỳ, chuyên nghiệp của các loại rau quả tạo nên cho món salad như một bản giao hưởng của các loại màu sắc, nhìn bắt mắt và ngon miệng. Người ta có thể ăn salad khai vị trước khi món chính được dọn ra, nhưng cũng có thể là một món ăn độc lập, vì thường luôn trộn kèm với các loại thịt, cá, tôm. Nhưng nhiều khi chỉ là một chút củ quả tươi: súp lơ, cà rốt, với một chút mayonair, người ta cũng có thể nhâm nhi thưởng thức được với rượu vang. Ăn một món salad, ngoài vị tươi sống, dịu mát của rau quả, ta vẫn cảm nhận được vị salad vẫn có một chút béo, bùi đặc trưng.
Còn món rau sống Hà nội, thông thường nó sẽ có rau xà lách, trộn lẫn với các loại rau thơm gia vị, gia giảm tùy loại phụ thuộc món ăn: rau húng, một chút thân chuối non thái mỏng, kinh giới, ngổ đồng, rau muống chẻ, tía tô…. Không màu mè, không bắt mắt, không bài trí cầu kỳ, tất cả chỉ có một màu xanh ngát của rau tươi. Chỉ có vậy thôi nhưng rau sống là món không thể thiếu được trong các món nem, bún nổi tiếng ở Hà Nội, đặc biệt là những món nướng, món rán cũng như trong các bữa cơm thường của món ăn Việt. Tôi đã thử trộn rau xà lách với các vị rau gia vị ở nước ngoài, nhưng vẫn không thể giống rau sống ở nhà, có lẽ vì tại rau húng. Rau húng ở Hà nói có vị thật đặc biệt, dù ngày nay húng Láng chắc không còn hoặc còn rất ít, người ta vẫn cảm thấy sự khác biệt của rau sống Hà Nội nhờ vị rau húng. Rau sống Hà Nội không có dressing nhưng lại không thể thiếu nước chấm. Nước mắm pha để chấm rau sống gần như quyết định chất lượng của các món ăn có rau sống và nước mắm chấm. Vị chua ngọt thanh thanh, không quá mặn, không quá chua, không quá ngọt, điểm xuyết chút cay cay là cả một nghệ thuật pha nước chấm của những người nội trợ và các bà cô bán hàng ăn Hà Nội. Không ai ăn rau sống mà không ăn kèm với bún chả, bún nem, bánh gối.. , vị rau sống làm dịu đi cái béo, cái khô và tinh đầu của những rau gia vị làm tăng hương vị của những món thịt nướng, rán. Tôi không chắc rằng các món salad nước ngoài, khi các đầu bếp chuyên nghiệp làm, họ có để ý đến việc phối hợp các loại rau quả để chúng bổ sung, hỗ trợ hương vị lẫn nhau hay không chắc chắn rằng rau sống Việt Nam từ bao đời nay, việc kết hợp ăn rau thơm khác nhau tương ứng với các món ăn khác nhau đều tuân theo nguyên lý "âm dương ", tương sinh, chế hóa lẫn nhau, góp phần làm giảm tác hại và gia tăng hương vị cho món ăn. Và mỗi món ăn dường như gắn với một loại rau thơm đặc trưng trong món rau sống, thiếu nó thì không thành vị: đậu phụ rán với kinh giới, thịt chó với lá mơ, canh cá với thìa là, riếp cá… Chính vì thế nên món rau sống nó gắn bó với món ăn Việt, nó cũng bình dị như người Việt thường tự nhận về mình, so sánh với cái cầu kỳ, đẹp đẽ của món salad. Phải chăng tâm hồn Việt nhẹ nhàng tạo ra món thanh đạm hay những món ăn đó tạo nên tâm hồn người Việt dân giã, bình dị nhưng cũng thật sâu sắc.
Tôi không định so sánh salad với rau sống để xem thích ăn món nào hơn, đơn giản vì mọi sự so sánh đều khập khiễng, mỗi món ăn đều là phản ánh văn hóa và tâm hồn của những vùng đất khác nhau, mang hương vị khác nhau. Chỉ biết rằng tâm hồn Việt xa quê luôn nhớ vị rau sống trong mỗi bữa ăn Việt, để cảm nhận vị thanh thoát, nhẹ nhàng, cái ngọt ngào của quê hương thì vẫn thi thoảng nhớ món salad bùi bùi, béo ngậy và đẹp đẽ, như một bên là cội nguồn quê hương không thể quên và bên kia là những gì đã trải qua, đã gắn bó. Hà Nội, tháng 10/2009 Lưu Tuấn Anh
Không biết từ bao giờ, sau gần 10 năm xa nhà, tôi phát hiện ra mình bị ảnh hưởng bởi văn hóa “đặc trưng"Mỹ trong việc mua bán một cách vô thức. Và tôi tự hỏi đây là một xu hướng bán hàng và phục vụ khách hàng tất yếu của xã hội hiện đại hay là thói quen không tốt của nền văn hóa tiêu thụ nước Mỹ? Ngày nay, việc mua hàng qua mạng đã trở nên phổ biến, và đại đa số việc mua hàng của tôi và rất nhiều người dân Bắc Mỹ đều dựa trên “review” và “credit”. Mua bất cứ cái gì, cũng phải xem ”review” tức là những phản hồi đánh giá của những người đã mua và sử dụng về sản phẩm. Ở Việt Nam khi mà đa số việc mua hàng hoá theo kiểu truyền miệng, thì ở những nơi thị trường cạnh tranh cao, khi có quá nhiều sản phẩm của các nhà sản xuất khác nhau cùng cạnh tranh, người ta không biết làm thế nào để chọn trong hàng trăm sản phẩm cùng loại khi mà cái nào quảng cáo cũng hay cũng tốt, người mua đành phải dựa trên những nhận xét của các khách hàng đã dùng trước. Điều đó rất có lợi cho người mua khi được nghe ý kiến của những người đã có kinh nghiệm. Với những hàng hoá thông thường thì điều này đặc biệt có ích, vì đại đa số ưu nhược điểm là giống nhau với mọi người. Còn những thứ mà thuộc về sở thích của từng người, một cách nhìn khác nhau, thì việc đánh giá trở nên khó khăn hơn nhiều nhưng bù lại, với đánh giá của số đông, thì việc có một khái niệm tương đối về ưu nhược điểm của sản phẩm một cách khách quan là điều người ta có thể đánh giá được xem có phù hợp với nhu cầu của mình. Càng ngày việc bán hàng trực tuyến càng trở nên phổ biến và tiện lợi, thì việc “review” càng phát triển nhờ internet. Nhà bán hàng trực tuyến nổi tiếng Amazon được khách hàng đặc biệt ưa chuộng và thành công cũng nhờ điều này. Cùng với việc nhận xét của người dùng, luôn có thể tìm được những ý kiến đánh giá những sản phẩm khác thông qua các ý kiến của các chuyên gia. Trong một thị trường phát triển như Mỹ, điều này khiến cho việc mua hàng trở nên dễ dàng hơn nhiều. Phải chăng đó cũng là sự phát triển tất yếu khi những thị trường nhỏ bé như Việt Nam ngày càng mở rộng và phong phú hơn. Nhiều mặt hàng, những đồng thời cũng rất nhiều người bán hàng. Vậy thì người mua hàng biết mua của ai trong hàng triệu người bán, với những mức gíá rất khác nhau cho cùng một sản phẩm. Cũng phải xem “credit history“, hay đó chinh là “uy tín” của ngừoi bán hàng. Đó là những đánh giá về chất lượng phục vụ, hậu mãi, chất lượng hàng hóa bán ra, giá cả. Chính những điều này tạo nên một dạng thương hiệu của những người bán hàng. Những cửa hàng nào càng nhiều đánh giá tốt và ít phản hồi xấu thì càng có uy tín. Những người bán hàng bị nhiều khách hàng đánh giá thấp (bad credit ) sẽ không thể bán được hàng, làm cho người bán phải cố gắng phục vụ khách hàng thật tốt. Người ta sẽ chỉ tin tưởng vào những của hàng có nhiều khách mua và đánh giá phản hồi tốt. Hiện tượng lừa đảo mạo danh khách hàng của người bán để có credit tốt cũng xảy ra nhưng rồi sớm hay muộn cũng sẽ bị phát hiện. Ebay là một trong những ví dụ điển hình của mô hình “credit” cho người bán. Và càng ngày khi thương mại điện tử càng phát triển, thì việc phản hồi của khách hàng càng thuận lợi hơn. Việc phản hồi và đánh giá trong mua bán không chỉ xuất hiện từ khi hình thành và phát triển internet và thương mại điện tử mà người dân ở xã hội Phương Tây đã có truyền thống này từ rất lâu. Sách hướng dẫn về du lịch, ẩm thực là những hình thức khá phổ biến của văn hóa “review”. Đánh giá theo từng mức của các nhà hàng, được không chỉ những sách báo liên tục cập nhật theo từng năm, mà còn được chính những khách hàng từ đưa lên internet. Việc đánh giá và phản hồi không chỉ đơn thuần là phê bình hay quảng cáo cho những nhà sản xuất, người bán hàng hay các nhà hàng, mà sẽ làm cho người bán, hay nhà sản xuất biết được những điểm mạnh điểm yếu của sản phẩm để khắc phục và làm tốt hơn. Việc “review” định kỳ cũng sẽ khiến cho những người cung cấp luôn có ý thức giữ gìn cải thiện hàng hoá chất lượng dịch vụ của mình, khắc phục những điều chưa tốt. Trong ý thức của người tiêu dùng, người ta sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm của mình với người khác, coi đó như một hình thức tự nguyện đóng góp cho cộng đồng. Người Việt Nam, vốn tự hào là có những quán ăn ngon nổi tiếng, nhưng đã có bao giờ đã có những đánh giá hay những phản hồi về chất lượng các món ăn, thái độ phục vụ, giá cả hay chỉ là những câu truyền miệng rỉ tai? Liệu quán ăn này ngon nhưng lúc đông khách, họ có làm giảm chất lượng đi không, hay là chất lượng năm nay và năm sau kém đi hay tốt lên? Liệu chúng ta có những đánh giá, hướng dẫn để những người lạ, khách du lịch đến Hà nội cũng biết chỗ nào đi ăn hợp với gu và vừa túi tiền của họ? Đơn giản là chúng ta chưa hoặc có rất ít một văn hóa “review” như vậy. Chúng ta bị mua phải hàng rởm, hay dịch vụ chưa tốt, không có thói quen đấu tranh, “ ngậm bồ hòn làm ngọt”, “ dĩ hòa vi quý ” có lẽ là đức tính cả tốt và xấu của người Việt. Bằng “review”, có thể chúng ta vẫn phải chấp nhận những sản phẩm đã mua, nhưng ít nhất cũng để cho những người đi sau tránh được những sai lầm của mình đã mắc. Ý thức đấu tranh không chỉ cho mình, mà còn vì cộng đồng và ngược lại, những gì mình làm cho cộng đồng tuy không được hưởng lợi trực tiếp nhưng sẽ được hưởng lợi từ chính những đóng góp từ những người khác về sau. Có lẽ chúng ta chưa có ý thức để bảo vệ và đấu tranh cho quyền lợi chính đáng của mình với tư cách người tiêu dùng nên rất nhiều người nhẫn nhịn để chịu ăn “ cháo chửi”, “ bún mắng”, “ phở quát”, hay chịu những gì mà Honda Việt nam và đại lý của họ đang làm. Chỉ cần mọi người đều tôn trọng chính mình, có ý thức đấu tranh, đồng loạt kiên quyết tẩy chay những người bán hàng hay sản phẩm như thế, tự khắc những người bán hàng hay những người sản xuất không sớm thì muộn sẽ buộc phải thay đổi thái độ. Chính điều đó sẽ thay đổi cách nghĩ và văn hóa của người bán hàng. Không hy vọng một sớm một chiều có thể thay đổi, khi còn đầy rẫy những độc quyền và ít sự cạnh tranh, nhưng ít nhất hiểu rõ và biết bảo về quyền lợi của mình, sẽ là những tiền đề để có một sự phục vụ tốt hơn. Ai cũng mong muốn có được điều tốt đẹp, nhưng điều tốt đẹp sẽ chẳng bao giờ tự đến nếu chỉ mong muốn mà không đấu tranh và tìm cách để có nó. Cũng như chúng ta không bao giờ hy vọng những người cung cấp hàng hoá dịch vụ tự nguyện làm ra những sản phẩm tốt, nếu không lên tiếng cho họ biết những gì mình muốn. Và đôi khi những điều tưởng chừng khó khăn và to tát đó lại bắt đầu từ ý thức tự nguyện đóng góp cho cộng đồng bằng những việc rất nhỏ như “review”.
Hình như cứ đến dịp tháng 7 là mùa shopping vì là mùa summer sale, cũng như sau Giáng sinh sale cho mùa đông, nói chung là giảm giá nhiều thứ nhưng sale nhiều nhất vẫn quần áo giày dép nghĩa là đồ thời trang. Tất cả mọi người, già trẻ gái trai nô nức đi sắm hàng, tủ quần áo chất đống vào vẫn cứ phải mua theo phong trào, vì kiểu gì cứ sale là phải mua, nó như thành tập quán, một thứ shopping addict. Không cần cũng mua, mua vì nó rẻ.
Sau một ngày dạo phố hộ tống người nhà shopping ngắm thiên hạ street sale trên St Catherine, ngày giảm giá lớn nhất của khu phố nổi tiếng nhất Montreal , kết quả cuối cùng là ngân sách thâm hụt trên dưới 200$ trong đó một nửa gift, nghĩa là mình năm nay cực kỳ kiềm chế, mặc dù đã định thề (may quá không cócá trê chui ống) là không mua gì vì giờ phải về nhà với 3-4 vali quần áo giày dép, mà vẫn phải dứt ruột vứt lại gần chục đôi giày với vài vali quần áo ở lại,jeans chục cái đủ các loại rồi quá nửa còn chưa cắt gấu, áo sơ mi áo polo thì mỗi lọai cũng vài chục chiếc rồi. Tất nhiên có lý do thứ hai là thất nghiệp sắp phá sản, ba là, mà lý do này mới gọi là tệ hại, phát hiện ra một thói rất xấu khi mua quần áo, một là chỉ mua khi cực rẻ không thể cưỡng lại nổi, mua không mặc sẽ đi tặng hoặc bán làm từ thiệnhai là chỉ ngó hàng mình thích, sale ít cũng mua, còn hàng lìu tìu thì rẻ cũng chẳng mua, mà hàng thích thì lại toàn là cái mà ngừoi ta gọi là "hiệu". Mà hình như xu hướng sau ngày càng thắng thế. Thời gian thay đổi tính cách hay là trong mình naturally tồn tại mâu thuẫn của một kẻ bình thường bản chất là giản dị nhưng lại thi thoảng nổi hứng bất chợt kỹ tính và cầu kỳ hơn bình thường, chắc tuổi già rồi nó thế.
Cái thời khi chưa bắt đầu bước chân ra khỏi VN năm 2000, thì khi quần áo vẫn chủ đạo là áo sơ mi rộng thùng thình của may 10, An phước, Việt Tiến, vina giầy thi thoảng có đồ hay hàng mua ở GMC đã thấy ngon rồi, thì đỉnh cao của thời trang chỉ là đồ Pierre Cardin , với lại xem đồ các bạn Dunhill nhìn lên TV với bản nhạc blue danube (các bạn 7x chắc vẫn còn nhớ), đã nghe đã thấy nhưng chưa nếm vì đắt quá, chả dám dùng. Complete thì may sẵn Nhà Bè hình như có 600 nghìn hay cùng lắm là Phú Hưng Tiến Thành chứ không dám Cao Minh.
Trong mấy năm đầu bên xứ kinh đô của Gia Nã Đại, thời trang chủ đạo vẫn là áo nhập khẩu từ VN trong hai vali xách sang dùng mãi không hết, hoặc cũng lắm là áo đồ GAP hay Tommy mua dịp boxing day, cứ nghĩ Chaps Ralph Lauren với Ralph lauren cũng là Lauren cả, chưa nói là biết phân biệt black label, purple label nó khác nhau thế nào . Cũng không biết thế nào là sơ mi hay suits fit cho đúng kiểu. Hình tượng nông dân nhà quê cày trên đường nhựa chính hiệu, ăn mặc xuềnh xoàng không bao giờ biết là quần áo (nhờ là hộ) tự gọi trệch đi một cách lịch sự của “hai lúa”, vẫn không mất đi.
Theo như một nghiên cứu, thì sẽ phải mất 15 năm để cải tạo một trọc phú Nga có tác phong một quystock Anh nếu được rèn luyện, như vậy bản chất nông dân giản dị tuềnh toàng cẩu thả annamit thì sẽ muôn đời không thay đổi , khi có chưa đến 10 năm sống ở xứ Canada vốn đã ăn mặc xấu vãi hàng so với châu Âu. những thói hư tật xấu thích hàng hiệu nếu có thì vẫn cứ bị nhiễm chỉ là do hoàn cảnh xô đẩy. Biết đâu về lại Việt Nam sẽ quay trở lại được với sơ mi vỉa hè hay suits made in Lạng Sơn.
Tự nhiên nghĩ xem đồ hiệu nó là cái khỉ gì nhi mà lại hấp dẫn người ta thế nhỉ, để người ta phải móc túi một đồng tiền ra cho hàng hiệu mà nhiều người thốt lên: điên. Hình như khái niệm đồ hiệu cũng không rõ ràng lắm. Có một số người tống tất cả các loại fashion brand vào làm hàng hiệu. Vì thế nên các thể loại tommy hilfilger, mexx, esprit, mango, Zara cũng được coi là đồ hiệu trong khi một số người bĩu môi bảo những brand này chỉ là casual clothing. Tất nhiên cũng có casual clothing vừa đẹp vừa đắt nhưng mà hãng casual thì lại không độc đáo về design, “đụng hàng” nhiều quá. Nó giống hệt kiểu chị em phụ nữở Hà nội theo phong trào thời trang TV, thấy diễn viên xứ Kim Chi có cái váy đẹp là ít lâu sau tủ quần áo của chị em ai cũng có cái như thế, trên đường ai cũng giống ai. Cũng có những người bảo các thể loại Guess by Marciano, CK black label, , United colors of benetton chỉ có Sisley collection cũng có thể đưa vào đồ hiệu nhưng những người khó tính thì bảo đồ hiệu, phải là Luxury Fashion brand, hay nói chính xác hơn là premium high end designer kiểu hàng bán trong Sask Fifth Ave, Neiman Marcus hay Eluxury. Hay như Levis cực kỳ nổi tiếng về jeans là thế, những bảo để jeans hàng hiệu, thì chắc chắn phải là Rock& Republic, Diesel, Citizen’s of humanity, chứ dứt khoát không thể là quần 501 Levi’s hay Tommy Hilfilger cho dân chăn bò ở Calgary được. Việc đồ hiệu đinh nghĩa đúng là tùy quan niệm, và trình độ và ..túi tiền của từng người.
Lẽ dĩ nhiên, đồ hiệu là đắt, thế nhưng có phải là cứ đồ hiệu đắt tiền là đẹp. Không ít một số người mua hàng hiệu hấp dẫn bởi quảng cáo. Các siêu sao hay người mẫu, bản thân người họ đẹp, mặc bao tải cũng đẹp, nên khi họ mặc đồ hiệu dưới bàn tay thần kỳ của công nghệ make up thì chả biết là đồ hiệu làm họ đẹp hơn hay là họ làm đồ hiệu nổi tiếng hơn. Có lẽ cả hai tôn nhau lên nên đã cứảo tưởng là mình mặc đồ hiệu vào cũng đẹp như các siêu sao. Thấy các siêu sao holywood đổ xô vào Raw denim jeans, thể là các nhãn hiệu nổi tiếng của sao mặc: 1921, nudie, 7 of all mandkind, đua nhau được mua.
Một số ngừoi thì lí luận là chất liệu, kiểu dáng ngon chỉ có đồ hiệu mới có. Hiển nhiên đắt và đi kèm với nó thông thường là chất lượng thì khỏi bàn: chất vải, kỹ thuật may và đặc biệt là thiết kế. Nhưng đội béo lùn hay bụng phệở một người bình thường khoác lên high-end designer, dĩ nhiên không phải lúc nào cũng đẹp.người dẹp lép như cái kẹo khoác sơ mi Moschino hay đã hay ghét thể thao ưa thể dục lại thích mặc slim fit AX để khoe cái bụng như trống thì trông càng lố bịch. Thế nên trước hết “ fit” và “match” hình dáng người mặc là tiêu chí quan trọng hơn là brand, nhiều người còn giấu đi brand đồ hiệu của mình đang mặc, chỉ những người tinh ý mới biết. Họ mặc đồ hiệu để họ nâng giá trị của mình lên trong ý nghĩ của chính mình, take care bản thân và cảm thấy tự tin hơn. Mà nói thẳng ra là đa phần "tự sướng". Tất nhiên ai cũng muốn “match”, những phù hợp thế nào con tùy văn hóa và gout ăn mặc của người mua. Nhưng gu gì thì gì, quần áo giày đẹp trước hết nó phải thoải mái, tự tin và nếu để giấu đi những nhược điểm của người mặc nữa thì càng tốt. Trong lùn thì sẽ thấy đỡ thấp hơn, gầy trông đỡ que củi đi hay tròn thì sẽ slim hơn. Bởi mục đích cuối cùng của thời trang là làm cho người ta “đẹp” hơn. Đa số đồ hiệu , với nice cut, chất liệu vải ngon lành, lại được bọn bán hàng chuyên nghiệp tư vấn trong các cửa hàng xịn, tất nhiên sẽ làm người ta đẹp ra, vấn đề chỉ là “đầu tiên” thôi.
Nhưng như thế thì nhiều người cũng cãi người ta sẽ đi may dạng MTM (made to measure) là ổn, chắc chắn chỉ cần một thợ may giỏi, chọn chất liệu vải tốt không cần đến high end designer, vẫn đủ tiêu chuẩn vừa và đẹp. Mà lại rẻ hơn rất nhiều. bởi nhiều người vẫn không thể chịu nổi cái giá cao vô lý của đồ hiệu. Vì thế một số người dùng hàng hiệu, là để họ khẳng định đẳng cấp? Có một số những đội trọc phú cứ khoác bất cứ cái gì lên với cái mác to tổ bố Gucci, Versace là đủ khoe mình classy với thiên hạ rồi. Đẳng cấp (chứng tỏ) lắm tiền hay sành điệu thì tất nhiên rồi, nhưng dường như bao giờ của các high end desinger cũng theo một phong cách riêng của họ, và vì thế những người mua đồ của họ dạng thưong lưu không gì khác là vì thích style đó, muốn khẳng định mình theo phong cách của designer, hay chỉ ít là cũng phù hợp với tính cách của người mua. Vì thế nên có những người trung thành chỉ với một vài brand “ruột”. Họ biết họ thích style nào, phù hợp với họ, để cứ theo nó mãi. Phụ nữ có thể thay đổi nhiều, những đàn ông thì rất ít.
Nhưng có một số lớn ngừoi mua hàng hiệu lại là tổng hợp hổ lốn cái lí do trên, chả phân biệt được do là thích khoe, hay là vì đẹp, hay là vì muốn tạo phong cách nuveau rich, nhưng một nguyên nhân chính nữa là do sale. Không biết là may hay không may cho những kẻ thích hàng hiệu, thi thoảng cũng có những đợt hàng hiệu sale. Có thể sale đến 40-50% hay đôi khi đến 70-80%. Và vì thế những kẻ ít tiền hơn , nhưng vẫn có thể có cơ hội xài hàng hiệu. Và thú vui shopping mua hàng hiệu, cũng là một cách giải tỏa stress cực tốt, buồn, shopping, vui, shopping. Người ta sẽ sung sướng âm ỉ khi mua được hàng hiệu giá rẻ bất ngờ, đẹp và phù hợp với người mình, để được mũi nở ra như chú hề Tiến Mạnh khi có một kẻ khác trầm trồ khen "stylish". Có lỗi gì không khi người ta muốn làm mình đẹp lên, tự tin hơn, lịch sử hơn bằng hàng hiệu. Vấn đề là trong khả năng cho phép, họ vẫn mua được những gì mình thích, mình cần và phù hợp với mình thì chả bao giờ là trọc phú cả. Mua hàng hiệu một cách chọn lọc, sẽ thích thú hơn vác tiền ra mua một đống về. Tất nhiên dính vào hàng hiệu là nghiện, vì có ai mà không thích đẹp, thích khoe. Nhưng cái quan trọng là biết khi nào dừng, cái đó mới khổ, vì khi nghiện cứ nhìn thấy đẹp, là lại nổi máu thèm, thì người ta lại phải “nghiến răng”. Và thế là tuy “rẻ”, tuy "mega sale" nhưng credit card vẫn cứ tăng lên vèo vèo.
Vì thế nên nhiều lúc nghĩ là trúng lôtô đi, để thành triệu phú, lúc ấy khỏi phải lo không tiền mua đồ hiệu. Nhưng mà đến lúc thành triệu phú rồi , thì mặc quần bò rách như lão chủ DHL Larry Hillblom, cũng vẫn thể hiện “đẳng cấp” như thường, thì cần quái gì đó hiệu hả trời?
Đã gần chục năm kể từ khi xa Hà nội, tôi lại được ngồi uống café thảnh thơi trong một buổi tối cuối tuần trên đường Thanh niên. Giữa tháng 12 mà ban ngày nóng như mùa hè, những buổi tối ngồi bên hồ thật dễ chịu, không lạnh, mát mẻ, ít nhất là với người đã quen với ở xứ lạnh như tôi, còn với các cô gái Hà thành, không biết do trời se lạnh hay muốn làm duyên mà hầu như ai cũng khoác một áo len mỏng trông khá quyến rũ. Đường Thanh Niên buổi tối thứ 7, vậy mà vắng hơn tôi hình dung. Vẫn có khá nhiều đôi ngồi chơi ven hồ , nhưng cũng ít hơn những gì tôi nghe đồn. Tự nhiên tôi chợt có ý nghĩ rằng chả lẽ bây giờ các đôi vào nhà nghỉ hay sao mà đường dạo ven hồ Tây tự nhiên vắng hẳn đi. Café Highland* khá ngon, nhưng cảm giác được ngồi bên cạnh một người bạn, và ngắm người Hà nội, nhìn hồ Tây đêm với tôi là quý giá hơn cả. Nhìn sang đường Cổ Ngư xưa để tìm lại cảm giác thời thơ bé, của thời học sinh vô tư và của những ký ức trước khi xa Hà nội. Hồ Tây khi tôi còn bé, được đi thuyền trên hồ thật rộng , nghi ngút tầm mắt, cộng với chút sương mù bảng lảng mặt nước trời lạnh, càng làm hồ thêm huyền bí, làm tôi vẫn tin truyền thuyết hồ Tây có thật. Chùa Trấn Quốc thâm nghiêm và u tịch, hằng đêm 30 tết, nhóm bạn cấp 3 của tôi có truyền thống vào chùa hái lộc và chụp ảnh giao thừa. Hay mỗi dịp liên hoan, cả lớp phổ thông lại kéo nhau lên bờ hồ ngồi hát hò. Những khi ấy, hồ Tây trong kí ức của tôi thật thân thuộc nhưng cũng thật huyền bí và lung linh.
Giờ ngồi đây, phóng tầm mắt sang phía bờ kia của hồ, tự nhiên tôi thấy nó có phần chật chội và xô bồ. Chùa Trấn Quốc đã sửa lại, những màu sơn loè loẹt bắt mắt nhưng vẻ u tịch thủa xưa không còn nữa. Một người bạn của tôi nói rằng, sau gần chục năm về Hà nội thấy thất vọng, “ Hà nội xưa “ lưu giữ trong kí niệm của bạn tôi không còn nữa. Tôi hiểu rằng không thể khăng khăng cực đoan như thế, đơn giản vì mỗi cảnh vật qua thời gian thay đổi và cả cái nhìn của những người xa cũng thay đổi, không thể giữ những hình ảnh vẫn lưu giữ trong tuổi thơ. Có thể vì tôi đã trưởng thành, đi nhiều hơn, đã đến những hồ ngút tầm mắt với diện tích rộng hơn cả Hà nội, hoặc là diện tích hồ Tây đã thu hẹp lại, bởi những vụ lấn chiếm, nhà hàng, khách sạn mà tôi nhìn thấy hồ nhỏ bé đi. Vậy mà tôi đã hy vọng nó thay đổi để trở nên đẹp và hiện đại hơn, chứ không phải giữ nguyên khư khư hoặc càng ngày càng tệ. Hồ Tây rất đẹp, nhưng không gian xung quanh mới là quan trọng. Những nơi tôi đã từng đi qua, xung quanh các hồ chủ yếu là các công viên, bãi cỏ, những con đường đi dạo dưới những hàng cây chứ không phải là các nhà hàng khách sạn cao tầng, lại càng không phải các khu biệt thự thi nhau chen ra sát mép nước và thoải mái xả rác xuống hồ khiến cho hồ thu hẹp lại càng gây cảm giác tù túng. Ai cũng nhìn thấy điều đó, các kiến trúc sư quy hoạch lại càng thấy, chỉ có điều người ta không có thể làm gì được để thay đổi, hoặc dám hi sinh để thay đổi không thì mới là điều quan trọng.
Mọi thứ vẫn cứ thay đổi, nhưng khi tình yêu với hồ Tây là không thay đổi, thì người ta vẫn muốn làm gì đó, ngoài việc mong ước và hy vọng…
Mùa xuân trên quê hương với tôi là ngày tết bận rộn và hơi thở ấm nóng của đất trời, với những cánh đào cành mai, nhưng cũng là những ngày mưa phùn dai dẳng, những hôm trời nồm kéo dài tập trung trong khoảng từ tháng 1 đến tháng 3. Còn mùa xuân hiện tại, chỉ thoáng qua khoảng 2-3 tuần, bắt đầu từ tháng cuối tháng 3, có khi là từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 5, nhưng là khoảnh khắc vui tươi của những mầm cây xanh mơn mởn đã kịp trồi lên và trổ lá từ bao giờ sau mấy tháng dài ngủ đông, của chùm hoa nở rực rỡ trên những đường phố.
Cuối tháng 4 đầu tháng 5, có lẽ là thời tiết lạ nhất trong năm, nắng vàng rực rỡ, nhưng mà vẫn có chút gì vương vấn của cái lạnh lạnh tạo nên một cảm giác rất đặc biệt, nhưng đặc biệt nhất là nó mang hương vị thực sự của hội mùa hoa, là thời điểm hoa nở rộ nhất trong năm. Ở những nơi tôi từng sống hoặc có dịp ghé qua, đó là những thảm hoa tulip trong tulip festival ở Ottawa, vạt bồ công anh vàng rực trên những bài cỏ xanh mướt ở bờ sông St Lawrence ở Montreal, hay những chùm hoa Magnolia dọc những đường phố Boston trên đường tới lễ hội cherry blossom nổi tiếng của Washington DC, vả cả chùm hoa táo li ti khi chạy dọc những đường phố ở Vancouver, Seatle.
Tulip festival (Ottawa)
Apple flower-Ottawa
Hoa mộc liên (Magnolia)-Boston
Bảo rằng tôi thích mùa xuân ở đâu nhất. Well, what can I say? Với nhiều người suốt đời gắn bó trên mảnh đất quê hương, người ta sẽ dễ dàng có câu trả lời. Còn với kẻ lang thang khá nhiều nơi, thật khó để so sánh. Một bên là quê hương, cho dù mùa xuân gắn liền với những đợt viêm mũi dị ứng kéo dài, những ngày nồm chảy nước, nó vẫn ăn sâu vào máu thịt mà người ta không thể quên, còn bên kia là sự trải nghiệm, là những gì từng trải qua và gắn bó một phần đời của mình. Vì thế nên người ta không thể chọn nơi nào mình thích nhất, chỉ có thể tận hưởng những gì đẹp nhất của mùa xuân những nơi mình may mắn hay vô tình đã đi qua, và cảm ơn đời đã cho ta được lang thang qua những lễ hội hoa mùa xuân.