Sunday, July 19, 2009

Hàng hiệu


Hình như cứ đến dịp tháng 7 là mùa shopping vì là mùa summer sale, cũng như sau Giáng sinh sale cho mùa đông, nói chung là giảm giá nhiều thứ nhưng sale nhiều nhất vẫn quần áo giày dép nghĩa là đồ thời trang. Tất cả mọi người, già trẻ gái trai nô nức đi sắm hàng, tủ quần áo chất đống vào vẫn cứ phải mua theo phong trào, vì kiểu gì cứ sale là phải mua, nó như thành tập quán, một thứ shopping addict. Không cần cũng mua, mua vì nó rẻ.

Sau một ngày dạo phố hộ tống người nhà shopping ngắm thiên hạ street sale trên St Catherine, ngày giảm giá lớn nhất của khu phố nổi tiếng nhất Montreal , kết quả cuối cùng là ngân sách thâm hụt trên dưới 200$ trong đó một nửa gift, nghĩa là mình năm nay cực kỳ kiềm chế, mặc dù đã định thề (may quá không có cá trê chui ống) là không mua gì vì giờ phải về nhà với 3-4 vali quần áo giày dép, mà vẫn phải dứt ruột vứt lại gần chục đôi giày với vài vali quần áo ở lại, jeans chục cái đủ các loại rồi quá nửa còn chưa cắt gấu, áo sơ mi áo polo thì mỗi lọai cũng vài chục chiếc rồi. Tất nhiên có lý do thứ hai là thất nghiệp sắp phá sản, ba là, mà lý do này mới gọi là tệ hại, phát hiện ra một thói rất xấu khi mua quần áo, một là chỉ mua khi cực rẻ không thể cưỡng lại nổi, mua không mặc sẽ đi tặng hoặc bán làm từ thiện hai là chỉ ngó hàng mình thích, sale ít cũng mua, còn hàng lìu tìu thì rẻ cũng chẳng mua, mà hàng thích thì lại toàn là cái mà ngừoi ta gọi là "hiệu". Mà hình như xu hướng sau ngày càng thắng thế. Thời gian thay đổi tính cách hay là trong mình naturally tồn tại mâu thuẫn của một kẻ bình thường bản chất là giản dị nhưng lại thi thoảng nổi hứng bất chợt kỹ tính và cầu kỳ hơn bình thường, chắc tuổi già rồi nó thế.

Cái thời khi chưa bắt đầu bước chân ra khỏi VN năm 2000, thì khi quần áo vẫn chủ đạo là áo sơ mi rộng thùng thình của may 10, An phước, Việt Tiến, vina giầy thi thoảng có đồ hay hàng mua ở GMC đã thấy ngon rồi, thì đỉnh cao của thời trang chỉ là đồ Pierre Cardin , với lại xem đồ các bạn Dunhill nhìn lên TV với bản nhạc blue danube (các bạn 7x chắc vẫn còn nhớ), đã nghe đã thấy nhưng chưa nếm vì đắt quá, chả dám dùng. Complete thì may sẵn Nhà Bè hình như có 600 nghìn hay cùng lắm là Phú Hưng Tiến Thành chứ không dám Cao Minh.

Trong mấy năm đầu bên xứ kinh đô của Gia Nã Đại, thời trang chủ đạo vẫn là áo nhập khẩu từ VN trong hai vali xách sang dùng mãi không hết, hoặc cũng lắm là áo đồ GAP hay Tommy mua dịp boxing day, cứ nghĩ Chaps Ralph Lauren với Ralph lauren cũng là Lauren cả, chưa nói là biết phân biệt black label, purple label nó khác nhau thế nào . Cũng không biết thế nào là sơ mi hay suits fit cho đúng kiểu. Hình tượng nông dân nhà quê cày trên đường nhựa chính hiệu, ăn mặc xuềnh xoàng không bao giờ biết là quần áo (nhờ là hộ) tự gọi trệch đi một cách lịch sự của “hai lúa”, vẫn không mất đi.

Theo như một nghiên cứu, thì sẽ phải mất 15 năm để cải tạo một trọc phú Nga có tác phong một quystock Anh nếu được rèn luyện, như vậy bản chất nông dân giản dị tuềnh toàng cẩu thả annamit thì sẽ muôn đời không thay đổi , khi có chưa đến 10 năm sống ở xứ Canada vốn đã ăn mặc xấu vãi hàng so với châu Âu. những thói hư tật xấu thích hàng hiệu nếu có thì vẫn cứ bị nhiễm chỉ là do hoàn cảnh xô đẩy. Biết đâu về lại Việt Nam sẽ quay trở lại được với sơ mi vỉa hè hay suits made in Lạng Sơn.

Tự nhiên nghĩ xem đồ hiệu nó là cái khỉ gì nhi mà lại hấp dẫn người ta thế nhỉ, để người ta phải móc túi một đồng tiền ra cho hàng hiệu mà nhiều người thốt lên: điên. Hình như khái niệm đồ hiệu cũng không rõ ràng lắm. Có một số người tống tất cả các loại fashion brand vào làm hàng hiệu. Vì thế nên các thể loại tommy hilfilger, mexx, esprit, mango, Zara cũng được coi là đồ hiệu trong khi một số người bĩu môi bảo những brand này chỉ là casual clothing. Tất nhiên cũng có casual clothing vừa đẹp vừa đắt nhưng mà hãng casual thì lại không độc đáo về design, “đụng hàng” nhiều quá. Nó giống hệt kiểu chị em phụ nữ ở Hà nội theo phong trào thời trang TV, thấy diễn viên xứ Kim Chi có cái váy đẹp là ít lâu sau tủ quần áo của chị em ai cũng có cái như thế, trên đường ai cũng giống ai. Cũng có những người bảo các thể loại Guess by Marciano, CK black label, , United colors of benetton chỉ có Sisley collection cũng có thể đưa vào đồ hiệu nhưng những người khó tính thì bảo đồ hiệu, phải là Luxury Fashion brand, hay nói chính xác hơn là premium high end designer kiểu hàng bán trong Sask Fifth Ave, Neiman Marcus hay Eluxury. Hay như Levis cực kỳ nổi tiếng về jeans là thế, những bảo để jeans hàng hiệu, thì chắc chắn phải là Rock& Republic, Diesel, Citizen’s of humanity, chứ dứt khoát không thể là quần 501 Levi’s hay Tommy Hilfilger cho dân chăn bò ở Calgary được. Việc đồ hiệu đinh nghĩa đúng là tùy quan niệm, và trình độ và ..túi tiền của từng người.

Lẽ dĩ nhiên, đồ hiệu là đắt, thế nhưng có phải là cứ đồ hiệu đắt tiền là đẹp. Không ít một số người mua hàng hiệu hấp dẫn bởi quảng cáo. Các siêu sao hay người mẫu, bản thân người họ đẹp, mặc bao tải cũng đẹp, nên khi họ mặc đồ hiệu dưới bàn tay thần kỳ của công nghệ make up thì chả biết là đồ hiệu làm họ đẹp hơn hay là họ làm đồ hiệu nổi tiếng hơn. Có lẽ cả hai tôn nhau lên nên đã cứ ảo tưởng là mình mặc đồ hiệu vào cũng đẹp như các siêu sao. Thấy các siêu sao holywood đổ xô vào Raw denim jeans, thể là các nhãn hiệu nổi tiếng của sao mặc: 1921, nudie, 7 of all mandkind, đua nhau được mua.

Một số ngừoi thì lí luận là chất liệu, kiểu dáng ngon chỉ có đồ hiệu mới có. Hiển nhiên đắt và đi kèm với nó thông thường là chất lượng thì khỏi bàn: chất vải, kỹ thuật may và đặc biệt là thiết kế. Nhưng đội béo lùn hay bụng phệ ở một người bình thường khoác lên high-end designer, dĩ nhiên không phải lúc nào cũng đẹp. người dẹp lép như cái kẹo khoác sơ mi Moschino hay đã hay ghét thể thao ưa thể dục lại thích mặc slim fit AX để khoe cái bụng như trống thì trông càng lố bịch. Thế nên trước hết “ fit” và “match” hình dáng người mặc là tiêu chí quan trọng hơn là brand, nhiều người còn giấu đi brand đồ hiệu của mình đang mặc, chỉ những người tinh ý mới biết. Họ mặc đồ hiệu để họ nâng giá trị của mình lên trong ý nghĩ của chính mình, take care bản thân và cảm thấy tự tin hơn. Mà nói thẳng ra là đa phần "tự sướng". Tất nhiên ai cũng muốn “match”, những phù hợp thế nào con tùy văn hóa và gout ăn mặc của người mua. Nhưng gu gì thì gì, quần áo giày đẹp trước hết nó phải thoải mái, tự tin và nếu để giấu đi những nhược điểm của người mặc nữa thì càng tốt. Trong lùn thì sẽ thấy đỡ thấp hơn, gầy trông đỡ que củi đi hay tròn thì sẽ slim hơn. Bởi mục đích cuối cùng của thời trang là làm cho người ta “đẹp” hơn. Đa số đồ hiệu , với nice cut, chất liệu vải ngon lành, lại được bọn bán hàng chuyên nghiệp tư vấn trong các cửa hàng xịn, tất nhiên sẽ làm người ta đẹp ra, vấn đề chỉ là “đầu tiên” thôi.

Nhưng như thế thì nhiều người cũng cãi người ta sẽ đi may dạng MTM (made to measure) là ổn, chắc chắn chỉ cần một thợ may giỏi, chọn chất liệu vải tốt không cần đến high end designer, vẫn đủ tiêu chuẩn vừa và đẹp. Mà lại rẻ hơn rất nhiều. bởi nhiều người vẫn không thể chịu nổi cái giá cao vô lý của đồ hiệu. Vì thế một số người dùng hàng hiệu, là để họ khẳng định đẳng cấp? Có một số những đội trọc phú cứ khoác bất cứ cái gì lên với cái mác to tổ bố Gucci, Versace là đủ khoe mình classy với thiên hạ rồi. Đẳng cấp (chứng tỏ) lắm tiền hay sành điệu thì tất nhiên rồi, nhưng dường như bao giờ của các high end desinger cũng theo một phong cách riêng của họ, và vì thế những người mua đồ của họ dạng thưong lưu không gì khác là vì thích style đó, muốn khẳng định mình theo phong cách của designer, hay chỉ ít là cũng phù hợp với tính cách của người mua. Vì thế nên có những người trung thành chỉ với một vài brand “ruột”. Họ biết họ thích style nào, phù hợp với họ, để cứ theo nó mãi. Phụ nữ có thể thay đổi nhiều, những đàn ông thì rất ít.

Nhưng có một số lớn ngừoi mua hàng hiệu lại là tổng hợp hổ lốn cái lí do trên, chả phân biệt được do là thích khoe, hay là vì đẹp, hay là vì muốn tạo phong cách nuveau rich, nhưng một nguyên nhân chính nữa là do sale. Không biết là may hay không may cho những kẻ thích hàng hiệu, thi thoảng cũng có những đợt hàng hiệu sale. Có thể sale đến 40-50% hay đôi khi đến 70-80%. Và vì thế những kẻ ít tiền hơn , nhưng vẫn có thể có cơ hội xài hàng hiệu. Và thú vui shopping mua hàng hiệu, cũng là một cách giải tỏa stress cực tốt, buồn, shopping, vui, shopping. Người ta sẽ sung sướng âm ỉ khi mua được hàng hiệu giá rẻ bất ngờ, đẹp và phù hợp với người mình, để được mũi nở ra như chú hề Tiến Mạnh khi có một kẻ khác trầm trồ khen "stylish". Có lỗi gì không khi người ta muốn làm mình đẹp lên, tự tin hơn, lịch sử hơn bằng hàng hiệu. Vấn đề là trong khả năng cho phép, họ vẫn mua được những gì mình thích, mình cần và phù hợp với mình thì chả bao giờ là trọc phú cả. Mua hàng hiệu một cách chọn lọc, sẽ thích thú hơn vác tiền ra mua một đống về. Tất nhiên dính vào hàng hiệu là nghiện, vì có ai mà không thích đẹp, thích khoe. Nhưng cái quan trọng là biết khi nào dừng, cái đó mới khổ, vì khi nghiện cứ nhìn thấy đẹp, là lại nổi máu thèm, thì người ta lại phải “nghiến răng”. Và thế là tuy “rẻ”, tuy "mega sale" nhưng credit card vẫn cứ tăng lên vèo vèo.

Vì thế nên nhiều lúc nghĩ là trúng lôtô đi, để thành triệu phú, lúc ấy khỏi phải lo không tiền mua đồ hiệu. Nhưng mà đến lúc thành triệu phú rồi , thì mặc quần bò rách như lão chủ DHL Larry Hillblom, cũng vẫn thể hiện “đẳng cấp” như thường, thì cần quái gì đó hiệu hả trời?


Wednesday, June 24, 2009

Hồ Tây một thời đã xa

Đã gần chục năm kể từ khi xa Hà nội, tôi lại được ngồi uống café thảnh thơi trong một buổi tối cuối tuần trên đường Thanh niên. Giữa tháng 12 mà ban ngày nóng như mùa hè, những buổi tối ngồi bên hồ thật dễ chịu, không lạnh, mát mẻ, ít nhất là với người đã quen với ở xứ lạnh như tôi, còn với các cô gái Hà thành, không biết do trời se lạnh hay muốn làm duyên mà hầu như ai cũng khoác một áo len mỏng trông khá quyến rũ. Đường Thanh Niên buổi tối thứ 7, vậy mà vắng hơn tôi hình dung. Vẫn có khá nhiều đôi ngồi chơi ven hồ , nhưng cũng ít hơn những gì tôi nghe đồn. Tự nhiên tôi chợt có ý nghĩ rằng chả lẽ bây giờ các đôi vào nhà nghỉ hay sao mà đường dạo ven hồ Tây tự nhiên vắng hẳn đi. Café Highland* khá ngon, nhưng cảm giác được ngồi bên cạnh một người bạn, và ngắm người Hà nội, nhìn hồ Tây đêm với tôi là quý giá hơn cả. Nhìn sang đường Cổ Ngư xưa để tìm lại cảm giác thời thơ bé, của thời học sinh vô tư và của những ký ức trước khi xa Hà nội. Hồ Tây khi tôi còn bé, được đi thuyền trên hồ thật rộng , nghi ngút tầm mắt, cộng với chút sương mù bảng lảng mặt nước trời lạnh, càng làm hồ thêm huyền bí, làm tôi vẫn tin truyền thuyết hồ Tây có thật. Chùa Trấn Quốc thâm nghiêm và u tịch, hằng đêm 30 tết, nhóm bạn cấp 3 của tôi có truyền thống vào chùa hái lộc và chụp ảnh giao thừa. Hay mỗi dịp liên hoan, cả lớp phổ thông lại kéo nhau lên bờ hồ ngồi hát hò. Những khi ấy, hồ Tây trong kí ức của tôi thật thân thuộc nhưng cũng thật huyền bí và lung linh.

Giờ ngồi đây, phóng tầm mắt sang phía bờ kia của hồ, tự nhiên tôi thấy nó có phần chật chội và xô bồ. Chùa Trấn Quốc đã sửa lại, những màu sơn loè loẹt bắt mắt nhưng vẻ u tịch thủa xưa không còn nữa. Một người bạn của tôi nói rằng, sau gần chục năm về Hà nội thấy thất vọng, “ Hà nội xưa “ lưu giữ trong kí niệm của bạn tôi không còn nữa. Tôi hiểu rằng không thể khăng khăng cực đoan như thế, đơn giản vì mỗi cảnh vật qua thời gian thay đổi và cả cái nhìn của những người xa cũng thay đổi, không thể giữ những hình ảnh vẫn lưu giữ trong tuổi thơ. Có thể vì tôi đã trưởng thành, đi nhiều hơn, đã đến những hồ ngút tầm mắt với diện tích rộng hơn cả Hà nội, hoặc là diện tích hồ Tây đã thu hẹp lại, bởi những vụ lấn chiếm, nhà hàng, khách sạn mà tôi nhìn thấy hồ nhỏ bé đi. Vậy mà tôi đã hy vọng nó thay đổi để trở nên đẹp và hiện đại hơn, chứ không phải giữ nguyên khư khư hoặc càng ngày càng tệ. Hồ Tây rất đẹp, nhưng không gian xung quanh mới là quan trọng. Những nơi tôi đã từng đi qua, xung quanh các hồ chủ yếu là các công viên, bãi cỏ, những con đường đi dạo dưới những hàng cây chứ không phải là các nhà hàng khách sạn cao tầng, lại càng không phải các khu biệt thự thi nhau chen ra sát mép nước và thoải mái xả rác xuống hồ khiến cho hồ thu hẹp lại càng gây cảm giác tù túng. Ai cũng nhìn thấy điều đó, các kiến trúc sư quy hoạch lại càng thấy, chỉ có điều người ta không có thể làm gì được để thay đổi, hoặc dám hi sinh để thay đổi không thì mới là điều quan trọng.

Mọi thứ vẫn cứ thay đổi, nhưng khi tình yêu với hồ Tây là không thay đổi, thì người ta vẫn muốn làm gì đó, ngoài việc mong ước và hy vọng…

Hanoi 12/2007-Montreal 6/2009.

*Cafe Highland Hồ Tây giờ đã đóng cửa

Thursday, June 18, 2009

Muà xuân


-->(Thi thỏang cũng cần phải viết...)

Mùa xuân trên quê hương với tôi là ngày tết bận rộn và hơi thở ấm nóng của đất trời, với những cánh đào cành mai, nhưng cũng là những ngày mưa phùn dai dẳng, những hôm trời nồm kéo dài tập trung trong khoảng từ tháng 1 đến tháng 3. Còn mùa xuân hiện tại, chỉ thoáng qua khoảng 2-3 tuần, bắt đầu từ tháng cuối tháng 3, có khi là từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 5, nhưng là khoảnh khắc vui tươi của những mầm cây xanh mơn mởn đã kịp trồi lên và trổ lá từ bao giờ sau mấy tháng dài ngủ đông, của chùm hoa nở rực rỡ trên những đường phố.

Cuối tháng 4 đầu tháng 5, có lẽ là thời tiết lạ nhất trong năm, nắng vàng rực rỡ, nhưng mà vẫn có chút gì vương vấn của cái lạnh lạnh tạo nên một cảm giác rất đặc biệt, nhưng đặc biệt nhất là nó mang hương vị thực sự của hội mùa hoa, là thời điểm hoa nở rộ nhất trong năm. Ở những nơi tôi từng sống hoặc có dịp ghé qua, đó là những thảm hoa tulip trong tulip festival ở Ottawa, vạt bồ công anh vàng rực trên những bài cỏ xanh mướt ở bờ sông St Lawrence ở Montreal, hay những chùm hoa Magnolia dọc những đường phố Boston trên đường tới lễ hội cherry blossom nổi tiếng của Washington DC, vả cả chùm hoa táo li ti khi chạy dọc những đường phố ở Vancouver, Seatle.
 Tulip festival (Ottawa)
Apple flower-Ottawa

Hoa mộc liên (Magnolia)-Boston

Bảo rằng tôi thích mùa xuân ở đâu nhất. Well, what can I say? Với nhiều người suốt đời gắn bó trên mảnh đất quê hương, người ta sẽ dễ dàng có câu trả lời. Còn với kẻ lang thang khá nhiều nơi, thật khó để so sánh. Một bên là quê hương, cho dù mùa xuân gắn liền với những đợt viêm mũi dị ứng kéo dài, những ngày nồm chảy nước, nó vẫn ăn sâu vào máu thịt mà người ta không thể quên, còn bên kia là sự trải nghiệm, là những gì từng trải qua và gắn bó một phần đời của mình. Vì thế nên người ta không thể chọn nơi nào mình thích nhất, chỉ có thể tận hưởng những gì đẹp nhất của mùa xuân những nơi mình may mắn hay vô tình đã đi qua, và cảm ơn đời đã cho ta được lang thang qua những lễ hội hoa mùa xuân.
Tulip in Montreal

Hoa bồ công anh (dandelion)

Hoa thủy tiên (daffodils)
Cherry blossom in Seattle.

Monday, February 9, 2009

You’ve got mail

Đã lâu lắm rồi tôi tự nhiên được ngồi xem lại “You’ve got mail”, một bộ phim khá nổi tiếng từ những năm cuối 1998-99 của Meg Ryan và Tom Hanks. Kể từ lần đầu tiên xem khi cách đây chúng gần chục năm giờ tôi vẫn thấy hay, vẫn thích Meg và Tom, những cảm xúc lãng mạn như khi xem lần đầu tiên không còn nữa. Có chăng nó chỉ gợi nhớ lại những ngày đầu khi xa nhà với kỷ niệm vui vẻ của thời kỳ đầu khi dùng AOL internet của những năm 2000 và lại nhớ về New York City , thành phố yêu thích của tôi. Nhưng kỳ thực phim bất chợt làm tôi liên tưởng đến thư tay. Bộ phim cuối thập kỷ 90 này được viết lại từ kịch bản khác những năm 40, khi chỉ có nhận thư viết tay. Khi mà thời đại này giờ tất cả giao dịch được thay thế hết bằng thư điện tử, những tấm thiệp gửi cho nhau những dịp đặc biệt cũng được thay thế bằng e-card, thì thư viết tay càng ít dần đi.

Không hiểu giờ còn có nhiều người viết cho nhau những lá thư tay không nhỉ. Có lẽ rất hiếm, ít nhất là với người thành phố. Cuộc sống quá bận rộn, mobile phone, gõ sms nhoay nhoáy, email, chat, quá đủ để người ta không phải ngồi viết những lá thư cho nhau mất thời gian, lại chờ thêm mấy ngày để gửi đi, không biết có bị thất lạc không. Và vì thế thói quen viết thư mất dần đi. Tôi vẫn nhớ việc mình ngồi viết 2 trang thư về cho ba mẹ vất vả cả mấy tiếng, dường như cảm giác viết thư tay không quen nữa. Thế mà hồi xưa thế hệ ba mẹ tôi xa nhau viết được cái cái thư hàng chục trang. Hay như hồi sinh viên của đầu những năm 90 của chúng tôi, khi email còn chưa có, cũng viết được 4-5 trang còn tuần 2-3 lá. Nhưng với email hay sms, người ta đâu có thời gian nghĩ nhiều mà chỉ mang thông báo tin tức, ít có dịp thể hiện tình cảm. Tôi đọc lại những lá thư tay, vẫn thấy có cái gì đó khác với những email tôi đọc. Chính sự chậm rãi của việc viết thư tay, làm người ta suy nghĩ cẩn thận hơn, khiến những dòng chữ viết tay tình cảm và chau chuốt hơn chằng. À nhưng không, đã có thơ máy để sáng tác sau này sẽ có thư máy, để khi người ta viết hết cảm xúc thì có thể nhờ máy tính làm thay.

Nhưng thật kỳ lạ, giờ đây ở đây, tôi vẫn có cảm giác là mong thư đến mỗi ngày. Ở đây, chủ yếu là thư liên quan đến chuyện tiền nong ngân hàng , rồi thì trước đây là giấy tờ xin học, xin visa, ngoài ra chủ yếu là của quảng cáo rao vặt. Những thứ ấy, không quan trọng lắm, hôm nào không thấy thư đến là lại thấy thiếu thiếu, dù biết là chẳng để làm gì. Dường như cảm giác mong và nhận thư , ít nhất là để cảm giác mình tồn tại, hay chính xác hơn là có cảm xúc liên hệ với người khác. Thi thoảng nhìn thấy thư viết tay, hay những tấm thiệp, dù không phải dành cho mình, vẫn có cảm giác ấm áp hơn. Dường như người ta vẫn thích và mong cho cái gì hiện hữu, để cho người đã được nhìn, được cảm nhận nó hơn là những gì người ta không thể sờ thấy, nhìn thấy. Đặc biệt là với thư tay, ít nhất thì người ta cũng nhận được cái gì đó mang dấu ấn của riêng người gửi, cho dù chỉ là những nét viết ngắn ngủi trên tấm thiệp chúc mừng hay những dòng chữ tràn đầy tình yêu thương trong những lá thư viết tay, thì ít nhất những cái đó mang lại cảm giác “người” hơn, chứ không phải là những nét chữ từ máy tính vô cảm, cho dù nó rất đẹp.

Vậy là hàng ngày , cũng như việc đầu tiên đến công ty là mở email, khi đi làm về, việc đầu tiên của tôi là mở hòm thư, để thật vui khi được nhìn những dòng chữ viết tay của những người thân, hay thất vọng khi trong hộp thư chỉ toàn quảng cáo. Giống như hồi xưa, mỗi lần vào AOL, lại mong chờ một điệp khúc quen thuộc “ You’ve got mail”.

Friday, July 4, 2008

Tản mạn kem

-->
Trong một ngày hè nóng bức đến ngột ngạt đến khó ngủ, khi người ta phải đổ xô ra ngoài đường và xếp hàng dài quanh những tiệm kem nổi tiếng, ký ức chợt đưa tôi về những que kem thời thơ ấu, những que kem Tràng Tiền và mùa hè Hà nội…
Ti Toe..ti toe Ti .. toe
Nỗi nhớ đưa tôi về tiếng còi “kem mút” của anh bán kem, rong ruổi khắp các làng xóm thời bao cấp, trong những buổi trưa hè ngột ngạt oi bức, mời gọi lũ trẻ chúng tôi đang thiu thiu giấc ngủ trưa hay lén trốn bố mẹ đi chơi dưới bóng những bụi tre làng mát rượi. Để rồi chúng tôi mang tất cả những gì có thể, dép nhựa hỏng, chai lọ, nylon ra chỉ để đổi lấy một que kem chủ yếu là nước lã, pha đường hóa học với đủ các loại phẩm màu xanh vàng đỏ. Cả lũ trẻ xúm vào quanh bên thùng gỗ lót hộp xốp đằng sau xe đạp, thèm thuồng nhìn anh bán kem cẩn thận nhắc từng que kem bốc khói nghi ngút ra như sợ rơi mất, để rồi chia nhau từng cái mút kem mát lịm đến tận cuống họng.
Nghỉ hè, được người lớn dẫn đi ăn kem cốc ở Long Vân, Thủy Tạ hay Bodega, là cả một niềm vui sướng mong chờ của những đứa trẻ như tôi lúc đó. Những cốc kem sang trọng trong các ly thủy tinh trong suốt, cắm thêm cái que bánh quế, dường như là sự xa xỉ mà thi thoảng tôi mới có dịp thưởng thức. Và thế là những cốc kem ký Sài gòn trên đường Trần Quốc Toản, với đủ các hương vị sầu riêng, xoài, dâu tây, lạnh đến rụng cả răng nhưng lại rẻ, là địa chỉ thường xuyên của lũ học trò ít tiền nhưng hay ăn quà vặt như chúng tôi.
Nhưng ấn tượng nhất là mỗi lần đạp xe được lên đến Tràng Tiền mua sách, là thế nào cũng vào ăn kem Tràng Tiền. Những que kem cốm, sô cô la, kem sữa, đậu xanh hay đắt hơn chút là ốc quế, dường như là món không thể thiếu của người Hà Nội xung quanh Bờ Hồ, từ già đến trẻ, cứ như là buổi sáng ăn phở thì buổi chiều tối phải ăn kem Tràng Tiền vậy. Cứ mỗi ngày hè trời nóng, con phố chính của Hà nội vốn đông đúc, lại càng thêm chật chội bởi người ăn kem đứng chật cả lòng đường, que kem vứt ngổn ngang. Một chị bạn người Sài Gòn của tôi,  đã đi nước ngoài nhiều lần, khi ra Hà nội lần đầu cứ nằng nặc phải đòi bằng được đi ăn kem cốm Tràng Tiền. Và ăn rồi thì nghiện đến mức thi thoảng còn nhờ người mang máy bay vào. Sài Gòn thiếu gì kem, nhưng chắc hương vị kem Tràng Tiền, có gì hấp dẫn đặc biệt chăng. Sau này, nghe đâu xung quanh Ngô Quyền, Bờ Hồ có kem Mỹ, kem Ý, những hình như người Hà nội vẫn trung thành với kem Tràng Tiền 2-3 nghìn một que. Liệu có phải kem kia quá đắt không?
Rời Hà Nội tôi vẫn nghiện kem, kem ở nước ngoài thì ê hề đủ các loại: Breyer’s, Bens &Jerry, Häagen-Dazs. Mua cả hộp kem về để tủ lạnh ăn dần kèm với dâu tây, và thi thoảng đi ăn kem ngoài cửa hàng, từ Baskin-Robbins nhiều mùi, cho đến Dairy Queen với nửa quả chuối to đùng, vẫn thấy ngon nhưng có lẽ không còn cảm giác thèm thuồng như xưa. Để rồi một buổi dạo phố trong buổi chiều nóng bức hiếm hoi của mùa hè xứ lạnh, tôi chợt nhìn thấy dòng người xếp hàng dài kín cả dãy phố, hỏi ra thì hóa ra là họ xếp hàng mua kem, quán kem Bilboquet nổi tiếng của Montreal. Nhìn những đám người tụ tập hết đứng lại ngồi trên vỉa hè ăn các que kem trái cây một cách ngon lành, trong tôi lại có cảm xúc ngọt ngào của những cây kem Tràng tiền ở Hà nội.
Sau này tôi đã ngồi ăn kem bên người bạn thân giữa đêm Noel rộn rã náo nhiệt của Sài Gòn, kem thật ngon, trông thật đẹp mắt, nhưng sao tôi vẫn không thèm như khi đứng dọc phố Tràng tiền ăn kem cốm hay sôcôla, hay ngồi vỉa hè ăn Sorbeit của Montreal. Cũng cùng cảm giác đấy giống như tôi ngồi ăn kem trong một quán rất đẹp sát Bờ Hồ mà tôi cũng chẳng nhớ tên, thật sang trọng, nhưng vắng vẻ và trống trải. Có lẽ người ta đi ăn kem không phải để có vị trí đẹp, cái đó có lẽ để uống café thì hợp hơn. Tự nhiên tôi chợt nghĩ rằng, hình như có hai loại kem, bạn sẽ chọn ăn loại kem nổi tiếng và hình thức đẹp, trong những quán sang trọng có máy lạnh, hay là khi đang bước trên những con phố của mùa hè oi bức, được tạt vào hàng kem vừa đứng “vừa ăn vừa thổi” những cây kem que hoặc ốc quế đơn giản không cầu kỳ?
Và thế là để một trưa mùa đông nhưng vẫn nóng chảy mỡ của Hà Nội, ở hiệu kem Tràng Tiền, giờ đây đã được bố trí lùi hẳn vào trong để người mua không còn đứng tràn ra vỉa hè, cả cô bán hàng những người khách xung quanh tròn mắt thấy một gã lần lượt ăn hết loại kem này đến loại kem khác một cách say sưa. Hắn đang thưởng thức kem hay cố tìm lại hương vị quê hương, cố vớt vát và níu kéo những kỉ niệm tuổi thơ đã qua?