Friday, October 26, 2018

Ý nghĩa của Hạnh Phúc

Diễn văn của S.N. Goenka tại Hội Nghị Kinh Tế Thế Giới tại Davos, Thụy sĩ, 31/1/2000
( Fr. Chronicle of Dhamma)

(Bản dịch của nhóm thiền sinh hỗ trợ Vipassana, không copy dưới mọi hình thức).

Mọi người tham dự diễn đàn này nằm trong một nhóm người độc đáo trên địa cầu. Họ thường là những người giầu có nhất, quyền lực nhất, thành công nhất trên thế giới. Ngay như việc được mời tham dự Diễn Đàn Kinh Tế là sự công nhận địa vị nổi tiếng của họ so với người khác. Khi người nào có tất cả tiền bạc, quyền lực và địa vị mà họ mong ước, họ có nhất thiết được hạnh phúc hay không? Tất cả những sự thành đạt và mãn nguyện này có mang lại mọi thứ không? Hay là có những mức độ hạnh phúc lớn hơn mà ta có thể đạt được?
Hạnh phúc là một trạng thái phù du. Nó qua đi rất nhanh; giây phút này có, giây phút kế tiếp đã biến mất. Một ngày khi tất cả đều xuông xẻ trong công việc, trương mục ngân hàng, trong gia đình, ngày đó có hạnh phúc. Nhưng điều gì xảy ra khi gặp phải những điều không vừa ý? Khi những việc ngoài tầm kiểm soát xảy ra khiến cho hạnh phúc và hài hòa của quí vị bị ảnh hưởng?
Mọi người trên thế giới, bất kể quyền lực và địa vị, đều sẽ gặp những thời kỳ mà tình huống xảy ra ngoài sự kiểm soát và không theo ý mình. Nó có thể là sự phát hiện mình mắc phải chứng bệnh ngặt nghèo; có thể là ly dị hay phát giác người phối ngẫu ngoại tình. Đối với những người quá quen với thành công trong cuộc đời, nó có thể chỉ là sự thất bại nào đó: một quyết định làm ăn sai lầm, công ty của quí vị bị phá sản và quí vị bị mất việc, thất bại trong một cuộc bầu cử, người nào đó được đề cử vào chức vụ mà quí vị ao ước, hay con em của quí vị bỏ nhà ra đi hay chống đối lại những giá trị mà quí vị cho là quí giá. Dù cho quí vị giầu có, tiếng tăm, quyền lực đến đâu đi nữa, những sự kiện trái ý và thất bại như thế thường gây ra rất nhiều đau khổ.
Kế đến là câu hỏi: làm sao để đối phó với những thời kỳ bất hạnh này khiến cho cuộc sống lý tưởng bị xáo trộn? Những thời kỳ như thế chắc chắn xảy ra ngay cả đối với cuộc đời tốt đẹp nhất. Quí vị có hành xử một cách từ tốn và bình tâm hay là quí vị phản ứng bằng sự ghét bỏ đối với nỗi khổ mà quí vị đang chịu đựng? Quí vị có thèm khát hạnh phúc trở lại hay không? Hơn nữa, khi quí vị đã ghiền hạnh phúc và quen với mọi việc đều luôn luôn xảy ra theo ý mình và khi gặp chuyện bất như ý thì sự khổ sở trở thành lớn hơn nhiều. Thật ra nó trở nên không chịu đựng nổi. Nó thường khiến ta tìm đến rượu để đối phó với tình trạng thất vọng và chán nản, và uống thuốc ngủ để được nghỉ ngơi cần thiết để tiếp tục. Trong khi đó ta nói với mọi người là ta rất hạnh phúc bởi vì ta có tiền tài, quyền lực và địa vị
Tôi xuất thân từ một gia đình kinh doanh và là một doanh nhân và tài phiệt vào lúc còn rất trẻ. Tôi xây dựng nhà máy đường, nhà máy dệt, xưởng làm mền, thành lập công ty xuất nhập cảng có văn phòng trên khắp thế giới. Trong tiến trình kinh doanh tôi kiếm được rất nhiều tiền. Tuy nhiên tôi cũng nhớ rõ ràng tôi đã phản ứng như thế nào đối với những sự kiện trong việc kinh doanh và đời tư của tôi trong những năm đó. Hằng đêm, nếu tôi thất bại trong một thương vụ trong ngày, tôi nằm thao thức hằng giờ và cố tìm ra những gì sai trái để lần tới tôi phải làm gì. Ngay cả khi ngày đó tôi thành công lớn, tôi nằm thức để tận hưởng thành quả của mình. Trong khi tôi thành công, tôi không hề có hạnh phúc hay an lạc trong tâm. Tôi nhận thấy rằng an lạc rất gần gũi với hạnh phúc và tôi thường không có cả hai mặc dù tôi giầu có và có địa vị trong cộng đồng.
Tôi nhớ một bài thơ đắc ý của tôi liên quan đến vấn đề này.
Thật dễ để vui;
Khi cuộc đời êm suôi như một khúc hoan ca.
Nhưng một người có bản lãnh,
Là người có thể mỉm cười,
Khi mọi việc đều sai quấy.
Làm sao để mỗi người trong chúng ta đương đầu với những thời kỳ mà mọi việc đều sai quấy là một phần chính trong ‘ý nghĩa của hạnh phúc’, bất kể đến tiền tài, quyền lực, và tiếng tăm của chúng ta.
Nhu cầu căn bản của con người là ai cũng muốn sống một cuộc đời hạnh phúc. Để được như thế, ta phải cảm thấy hạnh phúc thật sự. Cái gọi là hạnh phúc mà ta cảm thấy khi có tiền tài, quyền lực và thú vui giải trí không phải là hạnh phúc thật sự. Nó rất mong manh, không bền vững và dễ mất. Để có hạnh phúc thật sự, hạnh phúc ổn định và bền vững, ta phải làm một cuộc hành trình sâu vào trong tâm và loại trừ mọi bất hạnh tồn trữ trong tầng lớp sâu hơn của tâm. Khi nào đau khổ tại đáy sâu của tâm vẫn tồn tại, mọi cố gắng để cảm thấy hạnh phúc ở bề mặt của tâm đều vô dụng.
Bất hạnh chất chứa ở đáy sâu của tâm tiếp tục sinh sôi nảy nở khi nào ta tiếp tục tạo ra những bất tịnh như tức giận, thù oán, ác ý, và ganh ghét. Luật tự nhiên là, ngay khi ta tạo ra bất tịnh thì bất hạnh lập tức nảy sinh. Không thể nào cảm thấy hạnh phúc và an lạc khi ta tạo ra bất tịnh trong tâm. Hạnh phúc và bất tịnh không thể đi đôi với nhau giống như ánh sáng và bóng tối không thể ở chung. Vào thời xa xưa trong nước tôi, một nhà khoa học siêu việt và vĩ đại đã khám phá ra một phương pháp có hệ thống và khoa học để ta có thăm dò sự thật về hiện tượng tâm-thân ở mức độ trải nghiệm. Phương pháp này được gọi là Vipassana, có nghĩa là quan sát sự thật một cách khách quan, đúng như thật,
Phương pháp giúp ta phát triển khả năng cảm thấy và hiểu được sự tương quan giữa tâm và thân bên trong cấu trúc thể xác của chính mình. Phương pháp Vipassana gồm có luật tự nhiên là bất cứ khi nào bất tịnh nảy sinh trong tâm, cùng một lúc, hai việc bắt đầu xảy ra tại tầng lớp thể xác. Một là hơi thở mất nhịp độ bình thường. Ta bắt đầu thở mạnh hơn khi nào ô nhiễm nảy sinh trong tâm. Đây là sự thật thô thiển và hiển nhiên mà ai cũng có thể cảm thấy. Cùng một lúc, ở tầng lớp vi tế hơn, một phản ứng sinh hóa khởi sự trong người: ta cảm thấy cảm giác trong thân. Mọi ô nhiễm tạo ra không cảm giác này thì cảm giác khác tại phần nào đó trong cơ thể.
Đây là một giải pháp thực dụng. Một người bình thường không thể quan sát những bất tịnh trừu tượng trong tâm: sợ hãi, tức giận, đam mê trừu tượng. Nhưng với sự chỉ dẫn và thực tập đúng đắn thì rất dễ quan sát hơi thở và cảm giác, cả hai vốn liên quan trực tiếp đến những bất tịnh tinh thần.
Hơi thở và cảm giác sẽ giúp ích theo hai cách. Thứ nhất, ngay khi bất tịnh nảy sinh trong tâm, hơi thở mất nhịp độ bình thường. Nó sẽ cảnh báo: ‘ Hãy xem, cái gì đó đã sai trái!’ Tương tự như thế, cảm giác bảo tôi: ‘ Cái gì đó đã sai.’ Tôi phải chấp nhận điều này. Rồi sau khi đã được cảnh báo, tôi bắt đầu quan sát hơi thở, cảm giác, và tôi thấy rằng sự bất tịnh sẽ sớm mất đi.
Hiện tượng tâm thân này giống như hai mặt của một đồng xu. Trên một mặt là ý nghĩ hay cảm xúc nảy sinh trong tâm. Trên mặt kia là hơi thở và cảm giác. Mọi ý nghĩ cố tình hay vô ý, mọi bất tịnh tinh thần đều thể hiện bằng hơi thở và cảm giác trong giây phút ấy. Do đó bằng cách quan sát hơi thở và cảm giác, ta gián tiếp quan sát bất tịnh tinh thần. Thay vì trốn tránh vấn đề, quí vị đang đối diện với sự thật đúng như thật. Rồi quí vị thấy rằng bất tịnh mất đi sức mạnh; chúng không còn khống chế quí vị như trước đây. Nếu quí vị kiên trì, thì rồi bất tịnh cũng hoàn toàn biến mất và quí vị hưởng được an lạc và hạnh phúc.
Bằng cách này, phương pháp tự quan sát cho ta thấy sự thật trong hai trạng thái: bên ngoài và bên trong. Trước đây, ta luôn luôn nhìn ra bên ngoài với cặp mắt mở, bỏ quên sự thật bên trong. Con người lúc nào cũng tìm kiếm bên ngoài về nguyên nhân của sự bất hạnh của họ. Họ lúc nào cũng đổ lỗi và cố thay đổi sự thật bên ngoài. Vô minh về sự thật bên trong, họ không bao giờ hiểu được rằng nguồn gốc của khổ đau nằm ở bên trong, ở những phản ứng mù quáng của họ.
Ta càng thực tập phương pháp này, ta càng sớm thoát khỏi nhưng bất tịnh chừng đó. Dần dần tâm sẽ không còn bất tịnh; tâm trở nên thanh tịnh. Một tâm thanh tịnh lúc nào cũng tràn đầy tình thương, tình thương không ràng buộc cho người khác; tràn đầy từ bi cho sự thất bại và đau khổ của người khác; tràn đầy hỷ lạc cho sự thành công và hạnh phúc của họ; tràn đầy bình tâm trong mọi hoàn cảnh.
Khi ta đạt đến giai đoạn này, toàn thể khưôn mẫu của đời mình bắt đầu thay đổi. Không thể nào ta có thể làm điều gì bằng lời nói hay việc làm phá rối sự an lạc và hài hòa của người khác. Trái lại, một tâm quân bình không những trở nên an lạc mà còn giúp người khác trở nên an lạc. Bầu không khí xung quanh một người như thế tràn đầy an lạc, hòa hợp và hạnh phúc thật sự. Chúng cũng bắt đầu ảnh hưởng đến người khác. Sự chứng nghiệm trực tiếp sự thật nội tâm, phương pháp tự quan sát này được gọi là Vipassana. Nó là đường lối giản dị trực tiếp đưa đến một cuộc sống hạnh phúc thật sự.
Có những yếu tố khác nhau để sống một cuộc sống hạnh phúc. Một số yếu tố này liên quan đến nhóm người tham dự hội nghị này. Khi quí vị có tất cả tiền bạc và của cải mà quí vị mong ước, làm sao quí vị có thể vui hưởng những đặc ân này trong khi có hằng triệu người đang đói khát. Trong khi không có điều gì sai trai trong việc kiếm tiền để chu cấp cho mình, cho gia đình và những người phụ thuộc vào mình, quí vị cũng nên trả lại cho xã hội. Quí vị kiếm được tiền bạc từ xã hội, do đó quí vị nên trả lại ít nhiều. Thái độ phải là: ‘Tôi kiếm tiền cho tôi nhưng tôi cũng kiếm tiền cho người khác.’
Một khía cạnh khác của hạnh phúc trong việc kinh doanh là phải chắc rằng những gì quí vị làm để kiếm tiền không làm hại hay tổn thương người khác. Đây là trách nhiệm lớn lao.Tiền bạc kiếm được mà làm hại sự an lạc và hạnh phúc của những người khác không bao giờ mang lại hạnh phúc cho quí vị. Hạnh phúc thật sự không phải là của cải hay thành đạt hay giàu sang hay quyền lực. Nó là trạng thái nội tâm con người phát xuất từ một tâm thanh tịnh và an lạc. Vipassana là một phương tiện giúp mọi người đạt được trạng thái đó.





Wednesday, October 24, 2018

THIỀN LÀ GÌ

                                                      What Meditation Is – William Hart
                                                    Sayagyi U Ba Khin Journal (p191-193)
                                                                                                                    
(Bản dịch do nhóm thiền sinh Vipassana thực hiện, không copy dưới mọi hình thức).

 Năm 1976 tôi nghỉ việc và tới sống tại một thành phố nhỏ ở Ấn Độ để học thiền. Khi người khác nghe thấy như thế, họ thường hỏi tôi, “Bạn làm gì khi hành thiền?” Dĩ nhiên theo nghĩa thông thường, thiền có nghĩa là “không-làm-gì-hết,” chúng ta phải ngưng tất cả những gì chúng ta thường làm trong cuộc sống hằng ngày, và bắt đầu làm điều ngược lại.

Phương pháp thiền tôi học được gọi là Vipassana. Đây là một từ bằng tiếng Pali, ngôn ngữ ở Ấn Độ vào thời của Đức Phật. Vipassana có nghĩa là tuệ giác, tuệ tự chứng - thấy thực tế, sự thật; hiểu thấu đáo sự thật bằng cách chứng nghiệm sự thật trong bản thân.

Trong suốt cuộc đời, chúng ta bận rộn nhìn ra bên ngoài. Chúng ta chỉ bận tâm xem người khác đang làm gì, chúng ta không quan tâm đến chính mình. Khi hành thiền, chúng ta phải thay đổi những việc đó, và bắt đầu quan sát chính mình.

Chúng ta ngồi xuống, bất động và nhắm mắt lại. Không có cái gì để nghe và thấy, không quan tâm đến điều gì bên ngoài. Do đó chúng ta nhìn vào bên trong và thấy rằng điều lớn nhất đang xảy ra là hơi thở của chính mình. Chúng ta bắt đầu để ý tới thực tại này: hơi thở đi vào, đi ra. Chúng ta cố chú tâm vào hơi thở càng lâu càng tốt, phớt lờ đi những ý nghĩ khác.

Ngay lập tức chúng ta thấy điều này khó làm như thế nào. Ngay khi cố chú tâm vào hơi thở, chúng ta lại quan tâm tới sự đau nhức ở chân. Ngay lúc chúng ta cố chặn đứng những ý nghĩ, hằng ngàn điều hiện ra trong tâm. Ngay lúc chúng ta cố quên đi quá khứ hay tương lai và cố gắng có ý thức về hơi thở hiện hữu đi qua mũi ngay trong giây phút này, thì ngay lập tức, một số ký ức dễ chịu hay khó chịu, một số kỳ vọng hay lo sợ cho tương lai nảy sinh. Chúng ta mau chóng quên bẵng đi những gì chúng ta định làm.

Sự kiện là tâm giống như một đứa trẻ được nuông chiều quá mức với quá nhiều đồ chơi. Nó bắt đầu chơi với một thứ, rồi trở nên nhàm chán và vớ lấy một món khác, rồi một món khác. Cùng một kiểu cách, tâm không ngừng nhảy từ một đối tượng này sang một đối tượng khác, và bằng cách này chúng ta không ngừng trốn tránh thực tế.

Bây giờ chúng ta phải chặn đứng điều ấy. Thay vì cố gắng trốn tránh, chúng ta phải đối diện với thực tại, cho dù có thế nào đi nữa. Và như vậy, chúng ta kiên nhẫn cố mang tâm trở lại với hơi thở. Chúng ta thất bại và lại cố làm đi làm lại.

Sau một thời gian chúng ta thấy rằng tâm đã chú ý lâu hơn một chút vào đối tượng là hơi thở. Chúng ta đã thành công cho dù là rất ít ỏi trong việc thay đổi khuôn mẫu hành xử của tâm, tập cho tâm tập trung chỉ vào một đối tượng duy nhất.

Dùng sự tập trung mạnh mẽ này, chúng ta cố tình thay đổi một cách có hệ thống đối tượng của sự chú tâm, để khảo sát mọi phần của cơ thể; và bởi vì tâm và thân tương quan mật thiết với nhau, chúng ta đồng thời khảo sát tâm của mình.

Sự tự khảo sát này thường mang lại cho hành giả nhiều điều ngạc nhiên. Nhiều cảm xúc phức tạp trong quá khứ phát sinh từ tầng lớp sâu thẳm trong vô thức - đủ loại những ký ức, những ý nghĩ và cảm xúc đã quên bẵng đi từ lâu. Đặc biệt trong lúc mới bắt đầu, những ký ức đã quên này thường đem lại nhiều khó chịu về thể xác cũng như tinh thần, ngay cả đau đớn.

Tuy vậy, chúng ta không để cho sự khó chịu này ngăn cản sự hành thiền. Công việc của chúng ta là quan sát sự thật của bản thân, bất kể là gì đi nữa - giống như một khoa học gia quan sát một thử nghiệm trong phòng thí nghiệm.

Chúng ta thường phản ứng lại bất cứ ý nghĩ nào, bất cứ cảm xúc nào, bất cứ ấn tượng nào hiện ra trong tâm. Nếu nó là cái gì dễ chịu, chúng ta bắt đầu mong muốn nó – thêm nữa, thêm nữa; nếu nó là khó chịu, chúng ta bắt đầu ghét bỏ nó – làm sao để tránh né hoặc trốn chạy. Nhưng khi ta hành thiền, chúng ta chỉ nên biết đến những gì xảy ra trong bản thân, và chấp nhận nó là sự thật. Chúng ta không cố thay đổi nó hay trốn tránh nó; chúng ta chỉ quan sát mà không phản ứng.

Nếu chúng ta kiên trì, chúng ta sẽ nhanh chóng nhận ra rằng những trải nghiệm của chúng ta không ngừng thay đổi. Từng giây phút, ý nghĩ trong tâm thay đổi. Sự thực này, sự thật của chính tôi – đang thay đổi từng giây phút. Không cái gì tồn tại mãi mãi – ngay cả đối với cái dễ chịu hay khó chịu nhất.

Như vậy bằng cách quan sát chính mình, chúng ta tới lúc hiểu, bằng sự trải nghiệm của chính mình, một điều quan trọng: Anicca (tiếng Sanskrit anitya) – vô thường, sự thực của đổi thay. Mọi thứ trong tôi, và cũng như mọi thứ ở thế giới bên ngoài, đang thay đổi từng giây phút.

Dĩ nhiên là chúng ta biết điều này, và những nhà khoa học hiện đại đã chứng minh điều này là đúng – là toàn thể thế giới vật chất gồm những vi tử li ti sinh diệt hằng triệu lần trong một giây Nhưng thay vì chỉ nghe nói về sự thật này hay hiểu biết bằng tri thức, chúng ta trực tiếp chứng nghiệm được nó bằng cách thiền.

Chúng ta tiếp tục và chúng ta nhanh chóng nhận ra rằng, nếu không có cái gì tồn tại hơn một khoảnh khắc, rồi thì không có cái gì trong tôi gọi là ngã, một bản thể - không tôi, không ta, không của tôi. “Cái “Tôi” này chỉ là một hiện tượng, một tiến trình luôn luôn thay đổi. Và khi nào ta cố nắm giữ cái gì đó, nói là “Đây là Tôi, đây là ta đây là của tôi,” thì ta làm cho mình không vui, ta gây ra khổ đau cho chính mình - bởi vì không sớm thì muộn, cái đó sẽ mất đi, hay là cái Tôi” cũng mất đi.

Tôi hiểu tất cả những điều này không phải vì ai đó nói cho tôi biết – tôi tự mình chứng nghiệm bằng cách tự quan sát.

Thế thì ta tự làm cho mình khổ bằng cách nào? Rất giản dị: thay vì cố nắm giữ một kinh nghiệm và tránh né một kinh nghiệm khác, níu kéo cái này về mình, xua đuổi cái kia đi chỗ khác – tôi chỉ quan sát; tôi không phản ứng. Tôi quan sát với sự bình tâm, với một tâm quân bình.

Nghe thì có vẻ dễ dàng, nhưng ta sẽ làm gì khi ngồi thiền một tiếng đồng hồ, và sau mười phút bắt đầu cảm thấy đau ở đầu gối? Ngay lập tức tôi ghét bỏ cái đau; tôi muốn cái đau mất đi. Nhưng nó không mất đi, và tôi càng ghét bỏ, nó lại càng đau.

Nếu tôi học được cách chỉ quan sát cái đau trong một khoảnh khắc - nếu tôi có thể quên đi trong giây lát đây là cái đau của tôi, rằng tôi cảm thấy đau - nếu tôi chỉ khảo xét cảm giác như một nhà khoa học – thì rất có thể tôi sẽ thấy rằng cái đau tự nó biến đổi. Nó không tồn tại mãi mãi. Nó thay đổi từng giây phút, diệt mất, rồi lại phát sinh, rồi lại thay đổi.

Khi tôi hiểu được điều này, bằng kinh nghiệm của chính mình, thì rồi tôi thoát khỏi cái đau. Nó không chế ngự được tôi. Nó có thể mất đi một cách nhanh chóng hoặc có thể không – nhưng nó không thành vấn đề đối với tôi nữa. Tôi không còn bị khổ vì cái đau nữa bởi vì tôi có thể quan sát nó. Tôi đã bắt đầu làm cho mình hết khổ.

Và tôi làm được tất cả những việc này bằng cách ngồi yên với mắt nhắm lại, cố gắng ý thức được những gì đang xảy ra trong người.

Mục đích của thiền Vipassana là để thanh lọc tâm, giải thoát tâm khỏi những khổ đau và những nguyên nhân gây ra khổ. Thông thường chúng ta không hay biết những gì đang thực sự xảy ra. Chúng ta lang thang trong quá khứ hay trong tương lai, mù quáng vì sự thèm muốn và ghét bỏ; và chúng ta luôn bị giao động, đầy căng thẳng.

Nhưng bằng cách hành thiền chúng ta học được cách đối diện với sự thật của giây phút này mà không sinh ra thèm muốn hay ghét bỏ. Chúng ta quan sát với nụ cười - với sự bình tâm, với tâm quân bình.

Ý thức và sự bình tâm này rất hữu dụng cho chúng ta trong cuộc sống hằng ngày. Thay vì vô minh với những gì đang thực sự xảy ra – vô tình theo đuổi một cách mù quáng những thèm muốn, sợ hãi, thù ghét – bây giờ chúng ta có thể thấy được sự thật trong bất cứ tình huống nào. Rồi thay vì phản ứng (tạo nghiệp) một cách mù quáng và tạo thêm căng thẳng, chúng ta có thể có hành động thực sự, không bị ràng buộc và sáng tạo có lợi cho chúng ta và người khác.
Mọi người đều phải đối diện với những khó khăn giống nhau trong cuộc đời: những điều xảy ra mà chúng ta không muốn; sự việc không xảy ra theo ý mình. Trong những trường hợp này, nếu tôi phản ứng một cách mù quáng, tôi tự làm mình và người khác khổ. Nếu giữ được sự bình tâm thì ta duy trì được hạnh phúc và có thể giúp người khác được hạnh phúc.

Khi một người bị bệnh được hồi phục, đương nhiên người đó cảm thấy vui. Khi môt người mù được thấy trở lại, đương nhiên người đó cảm thấy vui. Tương tự như thế khi chúng ta biết cách thoát khỏi khổ đau, tự nhiên là chúng ta cảm thấy vui. Trước đây chúng ta ép buộc người khác san sẻ sự bất hạnh của mình; bây giờ chúng ta muốn người khác san sẻ sự an lạc và niềm vui của mình.

Bởi vậy một người hành thiền đích thực cố thay đổi thế giới sau khi đã thay đổi chính mình. Có thể hành động của người đó chỉ là sự tươi cười thay vì nhăn nhó – nhưng nụ cười đó có thể gây ảnh hưởng rất sâu rộng nếu đó là nụ cười phát xuất tự con tim. Mặt khác một nụ cười sẽ vô dụng nếu nó chỉ là sự che đậy những căng thẳng trong tâm.

Chắc chắn là chúng ta có bổn phận tinh thần để cải thiện thế giới được tốt đẹp hơn – và chúng ta phải bắt đầu bằng phương tiện có sẵn gần gũi nhất: chính chúng ta. Làm được như thế, chúng ta có khả năng làm được mọi thứ.

Như thế, đây là thiền theo sự hiểu biết của tôi: một nghệ thuật sống

Năm Câu Hỏi Về Kamma (Nghiệp)

                                                                                       Venerable Ledi Sayadaw
Ledi Sayadaw là nhà sư nổi tiếng của Miến điện thế kỷ 20, một học giả nổi tiếng với các sách viết về Vi diệu Pháp (Abhidharma), Tứ niệm xứ (Pariyatti) và thiền Vipassana được xuất bản rộng rãi bằng tiếng Anh. Ông người có công khôi phục phương pháp thiền Vipassana nguyên thủ từ thời Đức Phật vốn chỉ giới hạn trong tăng chúng Miến điện ra đại chúng, là ông tổ của Vipassana hiện đại, mà hậu duệ là dòng thiền Vipassana của U Ba Khin và S.N. Goenka.
Một nhóm những nhà tự tưởng người Pháp tại Paris gặp Ngài Monywa Ledi Sayadaw và đặt những câu hỏi về Kamma (Nghiệp) và những đề tài tương tự.

(Dưới đây là bản dịch của nhóm thiền sinh hồ trợ Vipassana).



Hỏi:  Thưa Ngài, Kamma (Nghiệp) của cha mẹ có quyết định hay ảnh hưởng đến nghiệp của con cái không? (Ghi chú – Về thể chất, con cái thừa hưởng những đặc tính của cha mẹ).

Trả lời: Về thể chất, nghiệp của con cái thường do nghiệp của cha mẹ quyết định. Bởi vậy, cha mẹ lành mạnh thường sinh ra con cái khỏe mạnh, và cha mẹ ốm yếu chỉ sinh ra con cái ốm yếu. Mặt khác, về mặt tinh thần, nghiệp của người cha hay người mẹ không có ảnh hưởng hay quyết định nào đến nghiệp của con cái. Nghiệp của người con là một nghiệp riêng biệt – nó tạo ra cá tính của đứa bé, tổng số những công đức và demerits tích lũy trong vô lượng kiếp quá khứ. Ví dụ, nghiệp của Đức Phật sẽ thành – thái tử Siddattha, chắc chắn không bị ảnh hưởng bởi cộng nghiệp của cha mẹ Ngài, Vua Suddhodana và vợ là Hoàng hậu Maya. Nghiệp huy hoàng và mạnh mẽ của Đức Phật vượt trội nghiệp của cha mẹ Ngài. Nghiệp tổng hợp của cả cha lẫn mẹ cũng không có uy lực bằng nghiệp của chính Ngài.

II. Hỏi: Thưa Ngài, nếu nghiệp của cha mẹ không có ảnh hưởng đến con cái, thì làm thế nào để giải thích sự kiện là, khi cha mẹ bị bệnh do nhiễm trùng, thường có khuynh hướng truyền những bệnh này cho con cái.

Trả lời: Khi người con bị chứng bệnh như thế do di truyền, là vì sức mạnh do tính chất của cha mẹ, bởi vì utu của cha mẹ (điều kiện sinh sản). Ví dụ, lấy hai hạt giống từ một cây; gieo một hạt tại chỗ đất khô cằn, sỏi đá; và hạt kia ở chỗ đất mầu mỡ, ẩm ướt. Kết quả, chúng ta sẽ thấy, hạt giống thứ nhất sẽ mọc thành một cây òe ọt, và sẽ nhanh chóng trở nên bệnh hoạn, héo tàn, trong khi hạt kia sẽ lớn nhanh và tươi tốt thành cây cao lớn, mạnh khỏe.
Nếu quan sát sẽ thấy rằng hai hạt giống lấy từ một cây tăng trưởng khác nhau tùy theo loại đất mà chúng được gieo trồng. Nghiệp quá khứ của một đứa trẻ (lấy trường hợp của con người) có thể so sánh với hạt giống; thể chất của người mẹ giống như đất; thể chất của người cha như hơi ẩm làm đất mầu mỡ. Để làm sáng tỏ đề tài, chúng ta có thể nói một cách đại cương, gom sự nảy mầm, sự tăng trưởng và sinh tồn vào làm một, hạt giống chịu trách nhiệm, giả thử là một phần mười, đất sáu phần mười, và hơi ẩm ba phần còn lại. Như vậy, mặc dù sức mạnh của sự nảy mầm rất mạnh trong hạt giống (đứa trẻ), sự tăng trưởng tùy thuộc và gia tăng rất nhiều do đất (người mẹ), và hơi ẩm (người cha).
Bởi vậy, cho dù điều kiện của đất và hơi ẩm chịu trách nhiệm phần lớn về yếu tố tăng trưởng và tình trạng của cây, phải thêm vào ảnh hưởng của cha mẹ (tổ tiên, trong trường hợp thế giới của động vật) liên quan đến sự thụ thai và tăng trưởng của con cái.
Phần của cha mẹ (hay tổ tiên) trong nghiệp quyết định đến yếu tố thể chất của con cái như sau - Nếu họ là người, thì con cái của họ là người. Nếu là trâu bò thì phải sinh ra thứ cùng giống. Nếu là người Hoa, con cái phải là người cùng chủng tộc. Như vậy, con cái luôn luôn phải cùng giống nòi, chủng loại v.v.., như tổ tiên của họ. Từ ví dụ trên đây sẽ thấy rằng, mặc dù nghiệp của người con tự nó rất là mạnh, nó không thể hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi cha mẹ chúng. Nó phải thừa hưởng đặc tính thể chất của cha mẹ. Tuy thế, có thể có trường hợp nghiệp của người con hết sức mạnh mẽ, ảnh hưởng cộng nghiệp của cha mẹ không thể hơn được. Dĩ nhiên, cũng không khó để cho thấy rằng ảnh hưởng (thể chất) xấu của cha mẹ cũng có thể sửa đổi bằng y khoa.
Mọi chúng sinh ra đời, qua sự giao hợp, là kết quả do ảnh hưởng của ba lực - một là nghiệp cũ của kiếp trước, kế đến là tinh dịch của người mẹ, ba là tinh dịch của người cha. Sức mạnh về thể chất của cha mẹ có thể hay không có thể, có lực giống nhau. Không nhiều thì ít, người này có thể ảnh hưởng đến người kia bằng cách này hay cách khác. Nghiệp của người con và đặc tính về thể chất, chẳng hạn như chủng tộc, màu da v.v.., sẽ là sản phẩm của ba lực này.

III. Hỏi: Thưa Ngài, vào lúc chết của một người, có một “linh hồn” đi vất vướng một cách tự do không?

Đáp: Khi một người lìa đời, người đó tái sinh hoặc là một người, một Deva (Thần, Thánh), một chư thiên (Brahma), một sinh vật hạ cấp, hay một cư dân tại một trong những cõi địa ngục. Người nghi ngờ hay vô minh cho rằng có một giao thời giữa hai giai đoạn này; và có những chúng sinh không phải là người cũng không phải là thần thánh, hay chư thiên hay thuộc bất cứ cảnh giới nào mô tả trong Kinh điển, nhưng ở giai đoạn giao thời. Một số người khẳng định rằng những sinh vật trong giai đoạn chuyển tiếp này có cả năm tập hợp.
Một số khẳng định rằng những chúng sinh này là những hồn lìa khỏi xác. Một số khác quả quyết rằng những chúng sinh này có khả năng biến thành thần linh, và hơn thế nữa, họ có khả năng thay hình đổi dạng rất nhanh chóng, bất cứ khi nào muốn, từ dạng này sang dạng khác như đã mô tả trên đây. Một số người khác, có giả thuyết sai lầm, hoang tưởng là những chúng sinh này có thể sống trong bất cứ cảnh giới nào không phải là cảnh giới thực của họ; do đó, lấy ví dụ của một chúng sinh như thế. Hắn là một người nghèo nhưng tưởng là mình giàu có. Hắn có thể ở trong địa ngục, tuy nhiên lại tưởng mình ở trong chỗ của thần thánh, và những thứ tương tự như thế. Niềm tin cho rằng có giai đoạn giao thời giữa hai kiếp sống là sai lầm, và bị lên án trong giáo lý Phật giáo. Một người trong kiếp này, nếu nghiệp của họ quyết định họ được sinh ra làm người, trong kiếp kế tiếp sẽ được sinh ra đúng như thế. Một người, nghiệp của họ cho rằng sẽ được sinh ra làm thần thánh trong kiếp kế tiếp, thì sẽ được ở trong cõi thần thánh. Người trong kiếp kế tiếp sẽ bị đọa địa ngục, sẽ phải sống trong một trong những cõi giới địa ngục trong tương lai.

Quan niệm của những người vô minh hay duy vật cho rằng, có một chúng sinh, một linh hồn, đang đi, đang đến, đang biến chuyển, đang thay hình đổi dạng từ một dạng này sang dạng khác, hoàn toàn không phù hợp với Dhamma. Không có cái gì gọi là đang đi, đang đến, đang biến chuyển  v.v…giữa hai kiếp sống. Quan điểm phù hợp với Dhamma có thể làm sáng tỏ bằng hình ảnh phát ra từ máy chiếu phim, hay âm thanh phát ra từ một máy hát hay máy CD, và sự tương quan giữa phim và loa phóng thanh hay CD và máy CD. Ví dụ, một người chết đi và được sinh ra trong cõi trời. Mặc dù hai cõi này khác nhau, tuy nhiên sự liên hệ và liên tục giữa hai kiếp không bị gián đoạn vào lúc chết. Và cũng giống như thế trong trường hợp người bị sinh ra trong cõi địa ngục. Khoảng cách giữa cõi địa ngục và cõi người có vẻ như rất lớn. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, sự liên tục trong sự chuyển tiếp từ kiếp này sang kiếp khác không bị gián đoạn, và không một sự can thiệp nào bằng thể chất và không gian có thể ngăn chặn được chiều hướng nghiệp của người này, từ cõi người sang cõi địa ngục. Sự chuyển tiếp từ cõi này sang cõi khác là ngay tức khắc, và hoàn tất nhanh hơn rất nhiều so với một nháy mắt hay một tia chớp.
Nghiệp quyết định lãnh vực tái sinh và cảnh giới của tất cả mọi chúng sinh (trong chu kỳ kiếp đời phải trải qua cho tới khi đạt được Niết Bàn vào giờ cuối).

Nghiệp và nghiệp quả có nhiều hình thức, và có thể ảnh hưởng bằng nhiều cách. Cúng dường trong tôn giáo có thể được sinh ra làm người, hay làm thần thánh ở một trong sáu cõi trời tùy thuộc vào mức độ cúng dường. Và cũng như thế đối với việc giữ giới (sila). Năm Jhanas (tầng thiền định), hay giai đoạn giác ngộ, được sinh ra trong cõi trời (Brahma-lokas) cho tới cảnh trời cao nhất là cảnh trời thứ 21. Và cũng tương tự như thế đối với những hành động bất thiện, có thể bị sinh vào cõi thấp nhất của cảnh giới địa ngục khốn khổ, tùy theo mức độ của sự bất thiện. Do đó, nghiệp của chúng ta, quá khứ, hiện tại và tương lai, đã, đang và sẽ vĩnh viễn là tổng hợp của những hành động, tốt, không tốt không xấu, xấu của chúng ta. Như đã thấy ở đoạn trước, nghiệp của chúng ta quyết định sự thay đổi về cuộc đời của mình.

Ma quỷ do đó không phải là những chúng sinh ở trong giai đoạn chuyển tiếp giữa hai kiếp sống, nhưng thật ra là những chúng sinh hạ đẳng và họ thuộc vào một trong năm cảnh giới, cõi người, cõi Trời; cõi địa ngục – cõi súc sanh dưới cõi người, cõi ngạ quỷ.
Họ rất gần cõi người,. Bởi vì họ ở trong tình trạng bất hạnh, họ thường bị gán cho là ma quỷ. Tất cả mọi người khi chết đi đều trở thành ma quỷ là điều không đúng, mặc dù những người chết thình lình, hay dữ dội thì thường sinh vào cảnh trời thấp nhất.

IV. Hỏi: Thưa Ngài, có trường hợp nào, một người khi chết đi, lúc tái sinh, người đó có thể nói chính xác về cuộc đời của mình trong kiếp trước?

Đáp: Chắc chắn là có. Đây không phải là điều hiếm khi xảy ra. Và nó phù hợp với nguyên lý Phật giáo về phương điện Dhamma. Một người như thế được gọi là jatissarapuggalo, một người bình thường, từ lúc sinh ra nhớ được quá khứ.
Những người sau đây, (gồm đại đa số những chúng sinh) không thể nhớ lại kiếp quá khứ, nếu được sinh ra làm người.
-        Trẻ em chết non.
-        Người chết vì tuổi già và bệnh tật.
-        Người nghiện nặng rượu và ma túy.
-        Người sinh ra từ người mẹ bị bệnh tật, làm việc cực nhọc, hay liều lĩnh hay cẩu thả trong lúc mang thai. Đứa trẻ trong bụng bị sốc và hoảng hốt nên quên hết về kiếp quá khứ.
Những người sau đây có khả năng nhớ lại kiếp quá khứ.
-        Những người không tái sinh vào kiếp người và trong tiến trình về cõi Thần Thánh, cõi trời, hay cõi địa ngục, nhớ được kiếp quá khứ.
-        Những người chết bất đắc kỳ tử vì tai nạn trong lúc đang khỏe mạnh, có thể có khả năng này trong kiếp tương lai, với điều kiện người mẹ trong lúc mang thai phải được khỏe mạnh, sống trong sạch và yên tĩnh.
-        Thêm vào đó, những người sống cuộc sống chừng mực, đạo đức, trong kiếp trước đã mong ước và nguyện cầu có được khả năng này, thường đạt được ước nguyện.
-        Sau hết là Đức Phật, các vị Arahant và Ariyas (Bậc Thánh) đều có khả năng này, được gọi là pubbenivasaabbhinna.

V. Hỏi: Thưa Ngài, năm Abbhinna (thần thông) là gì? Có phải chỉ có Đức Phật mới đạt được thần thông hay không?

Đáp: Năm Abbhinana (thần thông). Từ Pali, Abhi là ngoại hạng, nana là trí tuệ: thần lực, thần nhĩ, đọc được ý nghĩ của người khác, nhớ được kiếp quá khứ, thần nhãn.
Năm thần thông đạt được, không những chỉ do những vị A La Hán và Thánh nhân mà những người bình thường tu tập theo kinh điển cũng đạt được năm thần thông; như trong trường hợp của những vị ẩn sĩ v.v.. thành công rất nhiều trong thời của Đức Phật, những người có thể bay trên không, và du hành qua những cảnh giới khác nhau.
Chúng ta thấy phương cách để đạt được năm thần thông được chỉ rõ trong kinh điển Phật giáo; ngay trong thời đại này, nếu những phương cách này được theo đuổi một cách cẩn thận và kiên trì thì rất có thể đạt được điều này. Lý do vì sao ngày nay, chúng ta không thấy người nào có khả năng về năm thần thông là vì thiếu nỗ lực tích cực về thể chất cũng như tinh thần đối với mục tiêu này.

Saturday, September 29, 2018

Khi người thân qua đời


(Để tướng nhớ về Thu Phạm, nhân dịp sinh nhật em 29/9. Với tất cả lòng yêu thương, cầu mong em được an lạc, bình an , hạnh phúc mãi mãi, giải thoát mãi mãi.)   

Đây là bài dịch tiếng Việt do nhóm thiền sinh Vipassana thực hiện, trích trong cuốn sách "The art of Dying " bởi Thiền Sư Vipassana S.N.Goenka (https://en.wikipedia.org/wiki/S._N._Goenka) do Virginia Hamilton biên soạn. Bài này đã được sự cho phép chia sẻ của cô V.Hamilton. Xin hãy chia sẻ cho người thân, bạn bè đọc để có cách ứng xử đúng đắn khi người thân qua đời, nhằm mang lại lợi lạc cho người đã khuất.
    
 Câu hỏi: Thưa Thiền sư làm thế nào để một người hành thiền đối phó với sự đau buồn vì một người thân qua đời?
Thiền sư Goenka: Một người hành thiền sẽ có sự suy xét đúng đắn và hiểu được luật tự nhiên. Mặc cho tất cả những sự than khóc và cầu nguyện, sẽ không có khả năng nào để người này quay trở lại. Các con phải chấp nhận sự thật là người này đã vĩnh viễn ra đi.
Hãy hiểu rằng mỗi lần các con tạo ra những rung động vì buồn rầu và đau khổ khi nhớ tới người nào đó đã qua đời, những rung động ấy sẽ tới bất cứ chỗ nào mà người này hiện diện và làm cho người này không được hạnh phúc. Không ai muốn một người gần gũi và thân yêu đã mất không được hạnh phúc. Chắc chắn là ta muốn người đó được hạnh phúc, bình an và được giải thoát, vậy mà con lại gửi đến người này những rung động làm cho người này bất hạnh hơn. Các con đang làm hại người này, người mà các con muốn họ được hạnh phúc. Một khía cạnh tai hại khác là lúc các con than khóc khi nhớ tới những người gần gũi và thân yêu đã qua đời, các con đang gieo trồng hạt giống sankhara về đau khổ. Các con trở nên đau khổ, và hạt giống đau khổ sẽ không mang lại gì ngoài khổ đau trong tương lai. Thiên nhiên sẽ không phân biệt là các con đang gieo trồng những hạt giống vì lý do hợp lý này hay lý do hợp lý khác. Không đâu, nếu là hạt giống đau khổ nó sẽ mang lại khổ đau.
Sau cùng, hạt giống là gì? Hạt giống được nảy sinh và tạo ra khuôn mẫu thói quen trong tâm. Bây giờ các con hỗ trợ khuôn mẫu thói quen của tâm bằng cách trở nên khổ sở hơn bằng lý do này hay lý do khác. Khuôn mẫu thói quen này sẽ mang lại nhiều khổ đau hơn trong tương lai. Do đó các con đã bắt đầu hại chính mình và người thân yêu đã qua đời.
Và khía cạnh tai hại thứ ba là cảm giác về sự đau khổ mà các con tạo ra bằng loại sankhara này đã bắt đầu thấm vào bầu không khí xung quanh các con. Bất cứ ai trong gia đình ở gần các con sẽ trở nên chán nản bởi vì các con đã tạo ra loại cảm giác đó. Các con đã bắt đầu làm hại chính mình, hại những người đang sống bên cạnh các con và những người thân yêu đã mất. Hành động này của các con sẽ có hại theo ba phương cách.
Nếu người nào thực hành một cách sáng suốt và hiểu được luật tự nhiên thì ngay khi các con nhớ tới người đã qua đời, nếu ngay lúc đó dù chỉ một chút đau buồn khởi lên trong tâm, các con lập tức trấn tĩnh và bắt đầu tạo ra rung động của metta, của tình thương, “Nguyện cho quý vị được hạnh phúc, bất cứ quý vị ở nơi đâu. Nguyện cho quý vị được hạnh phúc; nguyện cho quý vị được bình an; nguyện cho quý vị được giải thoát”. Rung động của các con sẽ tới người này và làm cho người đó được hạnh phúc. Những rung động này tràn đầy hạnh phúc, bình an, hòa hợp. Lúc đó các con đang tạo ra sankhara của hòa hợp và bình an. Hạt giống này sẽ mang lại cho con quả của bình an, hài hòa và hạnh phúc. Rung động này sẽ thấm vào trong không khí và làm cho môi trường được bình an và hài hòa. Các con đã bắt đầu giúp cả ba: Những người thân yêu đã mất, bản thân các con và gia đình các con bằng một phương cách đúng đắn, phương cách của Dhamma.
Những rung động hữu hiệu ngay, cho dù những người đã qua đời ở bất cứ đâu, sự rung động mà các con tạo ra khi nhớ đến họ sẽ chắc chắn sẽ tới đó, mạnh hay yếu, tùy theo sức mạnh trong tâm các con.
Nhiều lần trong đời các con sẽ thấy rằng, mặc dù không có lý do nào cả, không có gì xảy ra bên ngoài, các con bắt đầu cảm thấy chán nản. Chắc chắn những rung động nào đó ở bên ngoài đã đến và tiếp xúc với các con. Một rung động của chán nản sẽ làm cho các con chán nản. Tương tự như thế, các con thường cảm thấy rằng, không vì một lý do nào cả, dù không có gì xảy ra ở bên ngoài, các con vẫn cảm thấy hạnh phúc. Chắc chắn những rung động tốt lành nào đó về hạnh phúc đã đến với các con. Đây là luật tự nhiên. Nếu các con ở gần một lò lửa đang cháy, những rung động của cái lò này sẽ mang đến hơi nóng cho các con. Nếu các con đang gần cái máy lạnh, sự rung động sẽ mang sự tươi mát cho các con. Người nào sớm hiểu được luật tự nhiên và áp dụng nó, cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Bởi vậy đây là cách tốt nhất để hành xử trong lúc đó.

Sunday, September 9, 2018

Vè mùa thu 2018 ( revised from 2007)
Thu chớm về Hà Nội chưa em
Để một người ngồi ngẩn ngơ thèm
Gió heo may thoảng thơm mùi cốm
Quyện lẫn hương sen hay hương em

Nắng thu vàng Hà nội chưa em
để một người ngồi ước mong xem
Tơ vờn thả nhẹ lên làn tóc
Hàng sấu già hay tà áo cánh sen

Hà Nội đã lập thu chưa em
Tết Trung thu về xem rước đèn
Giá anh là Cuội chăn trâu nhỉ
Luôn có chị Hằng, chẳng nhớ em

Thu ngập tràn Hà Nội chưa em
Để một người mất ngủ về đêm
Khi hoa sữa “nồng nàn đắm đuối"
hay hoàng lan "bát ngát" toả hương 

Gió xào xạc lá khô chưa em
Để lòng anh man mác buồn thêm
Nhìn rừng phong thay lá vàng lá đỏ,
Nhớ về Hà Nội xưa, có em
Mississauga, Sept 9 2018

Thursday, March 15, 2018

Cắt tóc nam


Tôi sẽ không nói về những tiệm cắt tóc " thanh nữ", kiểu Lệ Duyên # trong Sài gòn, vào thì lâu nhưng ra thì tóc không mất đi mà mất một số thứ khác, nghe nói các cô thợ cắt tóc nhổ được râu bằng răng, cái đó khi nào để đủ kinh nghiệm sẽ nói . 
Hàm răng cái tóc là góc con người, các cụ nói từ xưa, nên chắc chắn việc chăm chút cho tóc chắc chắn từ lâu lắm. Nhưng ngày xưa, các cụ búi tó, đội khăn xếp, nên nghề cắt tóc có chắc từ hồi theo người Pháp cắt tóc ngắn.  
Chỉ biết từ lúc tôi còn bé tí thì ở xóm, ở làng đều có những ông thợ cắt tóc hay ngồi ở gốc cây đầu xóm, nhưng hồi bé thì mẹ tôi cắt tóc cho tại nhà nên tôi cũng chả biết các ông thợ cắt tóc ấy thế nào.
Khi tôi lớn đủ để không chịu mẹ cắt tóc cho mà đi ra ngoài hàng, thì bắt đầu xuất hiện các phố cắt tóc, hình như là ở phố Quang Trung, Thái Phiên, các ông thợ cắt tóc già vẫn còn nhưng đa số là cánh thanh niên nam trẻ, mỗi quán treo đủ các hình các diễn viên tài tử Hồng kong, với đủ các kiểu tóc khác nhau, ai thích kiểu gì thì chỉ các anh thợ sẽ cắt kiểu đó,  không biết đúng không vì đầu tôi thì chỉ có mỗi kiểu húi cua nên cũng không quá phức tạp. Ngoài ra tôi thấy có các hợp tác xã cắt tóc, ví dụ như cái ở phố tràng thi, mà mỗi lần đi thư viện quốc gia tôi vẫn ngó vào, thấy cả nam nữ làm thợ cắt tóc nam,  toàn kiểu đầu như thời bao cấp những năm trước 1980 theo phong cách các lãnh tụ mà tranh vẫn treo trên các hội trường, trông rất âm lịch, trái hẳn với các kiểu đầu bít dít theo các tài tử ở các quán ngoài vỉa hè.
Rồi phố cắt tóc vỉa hè cũng dẹp dần, tất nhiên vẫn có cắt tóc vỉa hè nhưng người ta dần vào các của hàng, sang trọng hơn. Tôi và ông bạn thân chuyên đi cắt tóc cùng nhau thì kiếm được một anh thợ cắt tóc vỉa hè gần nhà suốt máy năm đại học, rất vui tính, và lại tóc hai đứa đều đơn giản nên cũng không ra các tiệm sang chảnh, lúc này đã có các em thợ cắt tóc cả nam và nữ. 
Rồi bắt đầu trào lưu các thợ cắt tóc học phong cách từ sài gòn ra, người ta không gọi là thợ cắt tóc nữa mà gọi hair stylist-các nhà tạo mẫu tóc cho sang, với các tiệm hớt tóc nổi tiếng cho cả nam và nữ bắt đầu ào ạt ra hà nội, tiếc là khi đó tôi cũng rục rịch đi học nước ngoài.
Ở nước ngoài , là sinh viên không tiền, mà cắt tóc bình thường khá đắt, nên chủ yếu cắt tóc phố tàu, đơn giản, nhưng rẻ. Có điều là dù sau này đi làm có ra cắt tóc các tiệm cao cấp hơn, cũng ko có được như ở các tiệm cắt tóc việt , cái này tôi sẽ nói sau.
Khi ở nước ngoài , lúc là rộ lên các cuộc thi hair stylist ở trong nước, các nhà tạo mẫu tóc có tiếng nổi như cồn, nên khi về hà nội, tò mò nghe theo lời giới thiệu của bạn bè, đến cắt tóc ở tiệm của các nhà tạp mẫu tóc hàng đầu mà tôi giờ cũng chả nhớ tên chỉ biết cây kéo vàng bạc gì đó, book lịch cũng khó phết, mà giá thì đắt trời ơi, nhưng thôi không sao, xịn nó phải thế. Nhưng bình thường tóc tôi cắt chỉ 20-25’ cùng lắm 30’ thì ở cái tiệm đó, nhà tạo mẫu tóc nổi tiếng vần vò cái đầu của tôi lúc bầy giờ vẫn còn nhiều tóc chừng hai tiếng hay hơn, cộng với một số điệu bộ động tác mà tôi ở nước ngoài chả lạ gì biết ngay là của dân giới thứ 3, nên tôi bảo ngay tôi ko có thời gian, phải đi, đề nghị làm kết thúc cho nhanh. Từ đó không quay lại các tiệm kiểu kéo vàng kéo bạc gì nữa. 
Nhưng cắt tóc nam, tôi chỉ nói nam thôi, vì chị em thì cầu kỳ tạp hơn và tâm tính trạng thái thì lại thay đổi theo giờ nay thích kiểu đầu tém mai thích kiểu dài, ngày kia thích xoăn highlight  7 màu nên chắc chả bao giờ như đàn ông là dần dần ai cũng sẽ chọn cho mình một ông thợ cắt tóc quen, khi thấy hợp rồi thì cứ trung thành với tiệm ấy , nhiều khi chuyển nhà, hay ông thợ cắt tóc chuyển tiệm, đi từ đầu đến cuối thành phố rõ xa mà vẫn theo.  Các anh thợ cắt tóc cũng có biệt tài bắt chuyện với khách, tán chuyện trên giời dưới biển, và đặc biệt là những câu chuyện vỉa hè, nghe nhiều khi khá thú vị. 
Cắt tóc là một chuyện, ở các tiệm cắt tóc nam sau khi cắt, đến đoạn thú vị nhất là các màn cạo gáy, cạo mặt, cạo râu, cắt tỉa lông mũi v.v , rồi còn thêm cả lấy ráy tai nếu được yêu cầu. Mà cái này thì khi còn ở nước ngoài, vào tiệm sang hay rẻ họ đều không bao giờ làm. Được nằm ngả người trên ghế cắt tóc ông thợ cạo cầm con dao sắc ngọt lịm lướt cạo râu với mặt, ban đầ cũng hơi ghê vì sợ trệch tí là chảy máu, nhưng sau quen rồi tạo cảm giác rất phê, nhiều khi tóc chưa dài cũng ra tiệm để cắt để được cạo mặt, cạo râu. Có những ông thợ còn có dịch vụ cạo riêng, để đáp ứng nhu cầu. Hồi xưa, con dao cạo của ông thợ cắt tóc sáng loáng, ai yếu bóng vía nhìn thấy sợ, cảm giác đúng là chỉ cần roẹt phát là khối thứ đi đứt. Sau này từ lúc có bệnh HIV, thì không ai dám xài chung dao cạo nữa, mà văn minh hơn là dùng lưỡi dao cạo dùng một lần vứt luôn.      
Ấy nhưng cắt tóc, cạo râu chỉ là dịch vụ truyền thống, sau này thì khi các tiệm cắt tóc đều nâng cấp lên thành cửa hàng thì có dịch vụ nữa là cắt tóc gội đầu. Cắt tóc thì cả nam và nứ đều cắt, chứ gội đầu thì hình như là toàn nữ làm, mà tôi vẫn dị ứng với cậu hair stylist dạo nọ nên nếu có nam giới động chạm đến đầu chắc mình cũng dẹp. Mỗi lần gội đầu xong ra nhẹ hẳn đầu, vì ngoài gội đầu, người ta còn massage đầu, massage mặt, rửa mặt nên thực sự là rất dễ chịu. Vì thế nhiều khi người ta không cắt tóc vẫn cứ đi gội đầu, để đầu óc thảnh thơi dễ chịu. Tôi cũng không biết vụ gội đầu này có ở nơi khác ngoài xứ Vịt không, chỉ biết nơi tôi ở nước ngoài hay một số thành phố đã từng qua không thấy, hoặc nếu có rất ít chứ không nhan nhản như ở việt nam. 
Thực ra ở những nơi nước ngoài mà tôi biết, làm dịch vụ về cắt tóc thì gái Hàn làm nhiều hơn dân Việt, dân Việt thì trung thành với nghề sơn sửa móng tay hay từ chuyên môn trong giới gọi là “làm lên”, chắc hồi xưa vua Hùng thứ 19 có công chúa nào đó đi lấy chồng xứ khác học được rồi thành tổ nghề, nên về sau phù hộ độ trì con gái xứ này phất lên về đường làm ăn khi xuất ngoại, nhờ thế góp phần đáng kể vào lượng kiều hối chuyển về xứ quê nhà cũng như góp phần đảm bảo % tăng trưởng đúng như Nghị quyết của Đảng , Chính phủ và Quốc hội.
Lắm dịch vụ hay ho như thế, nên bảo sao các tiệm cắt tóc lúc nào cũng đông vui. Ra cắt thường phải đặt trước, trừ ngày mùng 1 một số người kiêng cắt tóc, thậm chí có ông thợ còn nghỉ luôn mùng 1. Đầu của nam thì chắc tháng cũng phải cắt một lần cho gọn gàng, có ông nghiện còn nửa tháng lần đi cắt tóc gội đầu. Ngồi tán gẫu với các ông thợ cắt tóc, thi thoảng vui miệng hỏi thu nhập, hoá ra còn hơn là lương kĩ sư của mình. Mình tỏ ý ghen tị thì các ông nói làm nghệ thuật như anh khó lương cao là đúng, nghề kĩ sư của chú sao bằng, tổng thống Pháp nó cón trả thợ cắt tóc cho nó cả chục ngàn ơ một tháng cơ mà. Không dám cãi nhỡ tí nữa ổng cáu lúc cạo mặt lia lệch cho một đường thì khỏi cãi.
Hay là kiếm bộ đồ nghề, đi học rồi chuyển nghề, đỡ áp lực stress lại còn vui, lại còn được gọi là nghề vò đầu thiên hạ, từ ông to đến ông nhỏ.

Monday, March 5, 2018

Hà nội tháng 11


 Anh lại trốn thêm một đợt đón tuyết trắng đầu mùa để về kịp hà nội cuối thu. 
ban ngày nắng dịu nhẹ mà nhiều người gọi là nắng mật ong như xua đi cái se lạnh của sương sớm báo hiệu bắt đầu sắp chuyển sang đông.
Vẫn còn hương cốm lá sen thấp thoáng trong các thúng cốm theo bánh xe của các cô bán cốm rong ruổi qua các phố, anh giờ ngại ăn tinh bột rồi nhưng vẫn không thể cưỡng được vị quyến rũ của cốm.  mùi hương hoa sữa giờ có ở khắp các phố, đôi khi là gắt quá đến mức khó chịu. chỉ có mùi hương ngọc lan vẫn nhẹ nhàng đẹp như tên hoa đôi khi bắt gặp đâu đó khi đạp xe một vòng quanh hồ Tây. 
tháng 11 là tháng đẹp nhất của hà nội, trời luôn mát mẻ, không khí luôn bàng bạc mang mác, bầu trời trong xanh, mặt nước cũng tĩnh lặng làm không gian như đứng lại. điểm thêm hai tuần đầu tháng 11 cúc hoạ mi trắng muốt làm xao lòng người hà nội yêu hoa, để cuối tháng là thay bằng màu vàng của các cánh đồng hoa cải ven sông Đuống. Thảo nào mà bà bác của anh ở sài gòn cứ mỗi dịp tháng 11 là phải ra Hà nội thưởng thức mùa thu. Sau một chút thì không chịu được cái lạnh tê buốt của Hà nội còn sớm hơn thì lại không quen cái nắng oi bức của Xứ bắc dù Sài gòn cũng nóng ko kém cạnh. 
thời tiết đẹp cũng khiến con người đẹp hơn, đó cũng là thời điểm dễ mặc đẹp nhất của các cô gái hà nội. không tưng bừng khoe độ hot như mùa hè, cũng không nặng nề lù xù kín cổng cao tường như mùa đông, đó là mùa áo trench coat buberry sành điệu, áo len , áo khoác nhẹ khoác hờ trang điểm bên ngoài những tà áo dài, váy xinh xắn  đi dạo thong thả chụp ảnh thảm lá rụng trên đường Hoàng Diệu, Phan đình phùng, hay chỉ đơn giản các cặp đôi nắm tay nhau đi dạo bên tán lá lộc vừng ở bờ hồ Rùa những ngày cuối tuần.    
Tháng 11, cũng là tháng của các thầy cô, bạn bè già như anh lại được dịp hẹn hò nhau để đi chúc Tết các thầy cô giáo cũ, hay đơn giản là có cớ để tụ họp chém gió nhớ về tuổi thơ học trò. 

Tháng hối hả của những buổi thang thang phố phường , của kỉ niệm với bạn bè thầy cô,  những lúc gấp gáp sống ảo trong những tấm ảnh hoa cúc, cải hay bông lau trên phây trôi đi nhanh chóng, để chuẩn bị chào đón tháng Giáng sinh và năm mới, và những đợt gió mùa lạnh giá đôi lúc tê tái như thổi đi nốt những ngày đẹo đẽ cuối cùng của thu, lại trở về với Hà nội. 
Hà nội 22/2/2018

Thursday, March 30, 2017

Early first snow

Tôi trở về Hà Nội mùa thu 
Đi trong đêm thoảng mùi hương hoa sữa 
Quên bẵng thời gian, chỉ còn nỗi nhớ 
Mùa thu vàng ở một nơi xa 
Vội vàng hỏi: mùa lá phong đã qua?
Em bảo tuyết đầu mùa rơi sớm, 
Trời trở lạnh, mùa đông sắp đến 
Tôi chợt giật mình 
Lại mùa thu nữa đi qua…

HN 13/10/09

Vô thường

Ngày hôm nay là sinh nhật, thực ra bây giờ thì cũng không để ý lắm nữa dù rất cảm động khi người nhà bạn bè vẫn nhớ đến mình, cũng cảm ơn anh Mark nữa đã cho kết nối với bạn bè khắp nơi để gửi lời chúc thọ về. Nhưng tôi nhớ ngày này hơn với việc 7 năm về trước, là ngày ngồi trên máy bay về Vietnam. Khi bước chân về cũng không bao giờ nghĩ mình lại ở Vietnam lâu đến thế, vì plan bao giờ cũng là max 5 năm cho một thay đổi nếu thấy không ổn. Cũng không bao giờ nghĩ chuyến đi về lại là bươc thay đổi rất nhiều thứ trong cuộc đời. Và sau 7 năm, cũng ngày này, giờ đây lại đang chuẩn bị ra đi làm lại từ đầu, xã hội đã rất khác cả ở Canada và Vietnam so với hồi mình mới về, mình đã khác, già đi, nhưng quan trọng hơn là suy nghĩ , cách nhìn đời đã khác nhiều. Bởi vì 7 năm đó là 7 năm thăng trầm nhất của cuộc đời cho đến giờ, cả công việc lẫn gia đình, cả sư may mắn lẫn thất bại, sự đau khổ hay sai lầm, dường như tất cả nó pack dồn nén lại để xẩy ra chỉ trong thời gian ngắn, mà những sự kiện ấy với người khác có khi phải xảy ra trong thời gian gấp nhiều lần con số 5-7 năm ấy, hay có khi cả cuộc đời. Để có người bạn gái thân hiểu mình như chính mình, cũng không tin việc đó có thể xảy ra. Có rất nhiều người hỏi, có tiếc thời gian đó không khi sẽ phải làm lại từ đầu ở tuổi này, đơn giản là tiếc cũng không để làm gì. Rất nhiều lần ta phải tự hỏi, tại sao cuộc sống luôn đi ngược lại cái mình muốn. khi đề cao và trân trọng nhất việc gia đình, thì khi có rồi lại không được trọn vẹn. khi ta là người rất cầu toàn, thì việc xảy ra lại là ngược lại. Cái được, thì nó lại không như theo cách ta muốn. Theo Đức Phật, những gì đã xảy ra đều có nguyên do, vốn dĩ nó phải thế, hay ta không thể trốn tránh được việc vốn dĩ đã không toàn vẹn để đối mặt với nó, chấp nhận nó là không như ý ta muốn. Cái cách xảy ra với ta cũng một phần do ta, một karma mà ta phải gánh, từ kiếp này, hay kiếp trước, cũng vậy thôi. Vậy thì, ta đã không thể thay đổi được những gì đã xảy ra, thì con người ta phải thay đổi. Với số đông bây giờ, người ta ra đi có vài lí do chính, vì muốn con cái học hành tốt hơn, hi sinh đời bố cho con, hay vì họ bất mãn với môi trường sống, với xã hội, muốn tìm một chỗ trú chân an toàn, hay để tìm một cách để đổi đời… Tiếc là ta chả thấy có lí do nào là chính yếu trong đó để phải rời xa gia đình và hà nội yêu quý. Đúng là ta thấy không hợp với một số công việc ở Việt nam, nhưng công việc không phải là li do chính, bởi vì ở đâu thì công việc cũng có lúc lên lúc xuống, lúc vui buồn hay áp lưc như nhau, chỉ khác kiểu thôi. Cũng có thể nhiều người nghĩ là một cuộc chạy trốn, với những gì đã xảy ra. Nhưng đơn giản là người ta cần phải thay đổi chính con người mình, cách chấp nhận hạnh phúc và những gì ta có, bằng cách thay đổi môi trường khiến người ta sẽ quyết tâm hay phải thay đổi để sống và tiếp nhận hạnh phúc theo một cách khác với những gì ta đã quan niệm. Nếu có thể coi đó là cuộc đổi đời hay sống một cuộc đời khác với những gì đã qua, thì cũng được. Cuộc đời vô thường, khi bế tắc là khi cần có sự thay đổi. Có một điều, sau tất cả những gì đã xảy ra,ta vẫn cảm ơn cuộc đời cho ta may mắn hơn nhiều người là có quyền lựa chọn để thay đổi, được sống ở đâu theo cách của ta, và quan trọng hơn người thân yêu nhất luôn ở bên support vô điều kiện cho những gì ta cần. Hà nội 12.9.2016

Uống rượu


Thật nực cười khi một kẻ uống cực kém, nhấp môi một tí là mặt đỏ tưng bừng, không thích uống rượu như anh lại muốn viết về rượu, tất nhiên không phải là khoe hiểu biết về rượu, vì anh chả biết gì, nói như kẻ bợm rượu là biết đếch gì mà thưa thốt, đơn giản là suy nghĩ về uống rượu, như là một cách thưởng thức cuộc sống, như thưởng thức một món ăn, như trà, một thú vui trong cuộc sống.
Không phải ngẫu nhiên mà người ta coi rượu là một trong những phát minh quan trọng nhất của loài người từ khi người Trung hoa phát minh ra nó từ vài ngàn năm trước, còn ở xứ sở của rượu wishky người ta gọi rượu là nước của cuộc sống, hay vang được gọi là máu của Chúa. Hãy bỏ qua nhưng tác hại của việc lạm dụng rượu, vì ở đời cái gì quá cũng không tốt, kể cả tử tế quá cũng không hay, còn tất nhiên uống nhiều rượu quá thì có hại, từ sức khỏe đến tinh thần, say quá không kiềm chế nổi mình thì làm nhiều thứ xằng bậy. Với con người, rượu có lẽ quan trọng nhất là đồng hành với cảm xúc hạnh phúc, đưa con người ta đến cảm giác say, một cảm giác lâng lâng mang lại từ chất men mang lại cảm giác vui sướng cho con người. Cũng có say trà, say café nhưng thực ra nói đến “say” là chỉ ám chỉ say rượu, vì chỉ có say rượu mới mang đến nhiều cảm xúc hỉ nộ ái ố và mang cả niễm vui sướng lẫn cái vật vã như say rượu.
Cũng là chất men có cồn, nhưng rượu khác bia, không phải là vì nồng độ cồn khác nhau hay men rượu khác men bia, mà bởi cách dùng, cũng như cách nó đồng hành với cảm xúc của người uống. Uống bia, người ta đa số chỉ uống khi vui, uống ào ào, uống chung với số đông bạn bè, cũng có những loại bia người ta uống chậm rãi, để thưởng thức, nhưng ít khi người ta uống bia một mình, khi buồn, vì uống thế chán ngắt, đắng và rất khó vào. Còn rượu thì có thể song hành với mọi cung bậc cảm xúc khác nhau của con người, uống để cân bằng cảm xúc: vui uống rượu, đau buồn uống, cô đơn uống, chả cảm xúc gì thỉ uống lai rai giết thời gian. Rượu là phương tiện giao lưu giữa con người, khi vui, người ta uống rượu với bạn bè để chung vui, khi buồn uống để chia sẻ, người ta thường nói uống rượu với người tri kỉ, uống bia với bạn bè chứ ít khi ai nói uống bia với tri kỉ, mà nhưng rượu khi cô đơn khi buồn người ta uống rượu một mình để giải sầu. Anh thì chỉ uống rượu khi vui, để giao lưu bạn bè, ít khi dùng được rượu để giải khuây hay quên đi sự đời, nhưng rất nhiều người khác thì cứ mượn rượu để quên đi nỗi buồn, cho dù chỉ là quên đời trong chốc lát lúc say.
Rượu mang lại cảm xúc thăng hoa, hay là đồng hành với cảm xúc đau buồn, nên nó thường gắn với nghệ sỹ, đặc biệt với các nhà thơ, quá nhiều nhà thơ nổi tiếng nhờ uống rượu mà có những kiệt tác, không biết có nhà thơ hay nghệ sỹ nào có kiệt tác khi thăng hoa nhờ bia hay trà chưa? Anh say không nhiều và cũng chả ra được kiệt tác nào từ rượu, nhưng chỉ đoán, cái say của rượu, nó từ từ, ngấm dần, nhưng đủ mạnh để tạo nên cảm xúc nồng nàn mạnh mẽ khác với bia. Cũng có thể tại vì anh không uống được nhiều bia, không thích uống bia đầy bụng, chỉ uống rượu, để có thể uống được lâu, để có thể lai rai nhậu kèm với đồ nhắm mà thực chất là mượn rượu để diệt mồi, để được ăn nhiều, mà thiên vị chăng.
Nhưng nói về cái nồng nàn của men rượu, khác với bia, nó “đằm thắm” hơn, xin các tín đồ của bia tha thứ cho sự thiên vị của anh. Phải thú thật là anh không thể chịu được vị cồn của thứ rượu quê mới cất từ lò ra, nó quá sốc, quá gắt với một kẻ tửu lượng kém. Rượu uống chỉ ngon khi đã ủ ngâm lâu năm, dù là hạ thổ của xứ rượu nếp cái hoa vàng/ nếp cẩm quê ta, hay rượu nho ngâm trong các bình gỗ ủ hàng chục năm để tạo nên wishkey, cognac , hay sake uống nóng, sochu uống lạnh, khi chất cồn đã hòa quyện trong rượu thành một chất nồng nồng cay cay, mang lại cảm giác say mà vẫn êm, không đau đầu. Rượu uống cũng khác, không tu ừng ực như bia, cũng không từng ngụm nhỏ rón rén như trà, người ta chỉ uống từ tốn chậm rãi, thưởng thức cái chất cay nồng đi qua họng, nóng bừng lên đi vào người lan tỏa ra để rồi đi vào máu, bốc dần lên đến đầu và lan tỏa khắp cơ thể. Cái cảm giác ấy thật đặc biệt, chỉ có khi uống rượu. Cảm giác lâng lâng, say cái say của rượu nhìn thấy đời nó qua một lăng kính hoàn toàn khác, thoát ly khỏi cuộc sống thực tại để bước vào thế giới hư hư thực thực, như là đàn ông uống rượu thấy đàn bà đẹp hơn, những kẻ nhút nhát khi uống rượu trở nên bạo dạn hơn, và hình như khi say người ta lại trở về bản ngã con người thật mà khi thường ít khi thể hiện, đặc biệt khi phụ nữ uống rượu , dường như họ đẹp hơn, quyến rũ hơn.

Lại nói về say, tất cả những kẻ uống rượu bảo rượu uống không say thì phí cả rượu. Nhưng có kẻ say thì thăng hoa dạng tiên tửu, làm thơ làm văn sáng tác như Lý Bạch Đỗ phủ, có kẻ say là đi ngủ, có kẻ lèm bèm nói nhiều, có kẻ lại mất kiểm soát mình chả biết mình làm gì. Uống say đến độ thăng hoa cảm xúc thì có cái sướng của “say”, chứ còn uống không biết gì hoặc làm việc mất kiểm soát thì phí cả rượu. Uống rượu thì phải hết mình, nhưng kiểm soát được mình là cả một nghệ thuật, để biết giới hạn khi say để chỉ tiên tửu chứ không thành ngộ tửu.

“Rượu ngon phải có bạn hiền”, uống rượu mà có bạn uống thì sẽ vui, “chè tam rượu tứ”, càng đông càng uống được nhiều, nhưng uống để chúc tụng ào ào khi đông bạn bè thì vui tuy có vui nhưng lại không có thời gian tận hưởng rượu mình uống, vì thế, uống để thưởng thức rượu, “nhắm rượu” cũng chả cần đông. “ tửu bất khả ép”, vì ép là giảm đi cái thú của uống rượu, vì thế dù có uống rượu quý mà bị ép thì cũng không thể nghĩ đến ngon hay không. Rượu thì cũng có năm bảy loại, từ loại rượu từ hoa quả như vang, cognac, cider, đến rượu nấu từ ngũ cốc như vodka, sake, wishky, rồi thì từ mía đường như rum nên cáchs thưởng thức có khác nhau. Khi uống người ta cảm giác bằng mũi và lưỡi. để cảm nhận “hương” và “vị” của rượu . Rượu hoa quả như vang, người ta thường dùng kèm với đồ ăn, hay các loại rượu pha Rum, gin để dùng pha cocktail cũng là một nghệ thuật thưởng thức rượu, nhưng như thế thì sẽ bị pha trộn mất hương vị thuần túy của rượu. Với những chai rượu vang ngon và quý, người ta cũng ít kết hợp với thức ăn, mà thường uống rượu không, có chăng thì uống thêm nước suối cho đỡ gắt, để giữ vị nguyên thủy của thứ nước cốt của hoa quả. Còn với rượu mạnh, thì tất nhiên là uống “sex”, có chăng gọi là tí mồi nhậu đưa đẩy để thưởng thức được nguyên cái tinh túy của gạo, của lúa mạch, như hương trời đất. Nhưng ngoài hương và vị của rượu, thì có được cái ngon của rượu, cần có thêm cảm xúc. Cái cảm xúc khi uống rượu nó quan trọng lắm, người ta thấy ngon hay không, uống nhiều hay ít, say hay không phần lớn dựa vào cảm xúc hay tâm lý. Cái cảm xúc ấy được tạo nên bởi cảnh vật xung quanh, bởi thời tiết, nhưng có lẽ quan trọng nhất là người uống cùng, uống để chia sẻ cảm xúc. Âu Dương Tu đời Tống đã phải thốt lên bên Tây Hồ của nàng Tây Thi ngày xuân: Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu Thoại bất đầu cơ bán cú đa (Gặp người tri kỷ ngàn ly thiếu Lời không hợp ý nửa câu nhiều)
Uống một mình thì buồn, lại còn chóng say, uống khi đông thì lúc cao hứng mạnh ai nấy chém, vừa không thưởng thức được rượu lại còn không chia sẻ được cảm xúc. Uống rượu hay nhất có lẽ là “đối ấm”, uống hai người, với bạn bè cũng được mà có lẽ tuyệt với nhất là uống với “tri kỷ”. Cái sự uống rượu với “tri kỷ” nó đã được các nhà thơ, nhà văn Tàu nâng lên thành đạo, đến như ông vua tiểu thuyết Kim Dung khi viết về các nhân vật của ông trong tiếu thuéứt võ hiệp.đã mô tả không biết bao nhiêu cuộc rượu giữa các tri kỉ hay bằng hữu. Khi có chén rượu, bên bằng hữu hay tri kỳ, người ta dễ dàng bộc lộ tâm tình, rượu là cái cớ để trao đổi. uống mà có bạn để nói chuyện, thì uống được nhiều, ít say, còn cứ uồng tì tì chả nói câu nào, chắc đổ cái rầm. Nhưng như ai nói, uống rượu không say thì phí cả rượu. Thôi thì lại nói tiếp về say vậy.
Khi rượu vào, dĩ nhiên là say. Thực ra thì nói là say thì có nhiều loại say: say rượu, say trà, say café, say sóng, v.v. Nhưng tất cả các thứ say trên, chủ yếu là ảnh hưởng đau đớn khó chịu về thân thể. Nhưng chỉ có say rượu, và say tình, là hai thứ say có lẽ tác động đến cảm xúc và tình cảm hay tinh thần của người say. Say rượu thì cũng có nhiều kiểu, có kiểu mặt đỏ phừng phừng rồi cao hứng xả qua đường nói, nếu còn kiểm soát được thì dám bạo dạn nói những lời có khi chưa bao giờ dám nói lúc tỉnh, còn nếu không biết gì thì làm nhảm những lời ngông cuồng. Có kẻ thì say cứ xịu dần đi rồi gục, lăn ra ngủ, ấy lại là may, còn hơn kẻ làm những điều xằng bậy , rồi tỉnh dậy chả nhớ mình làm gì. Lại cũng có người uống vào say rồi khóc tu tu, thường là phụ nữ, hay nếu là đàn ông thì cũng là tính cách mềm yếu. Nhưng say rượu thì dù chậm hay nhanh, có mệt mỏi đau đớn vật vã như say vang thì cũng sẽ tỉnh, dù nặng hay nhẹ thì cũng sẽ hết, người nhanh thì qua đêm còn người chậm thì mất cả ngày hôm sau, sẽ trở lại bình thường. Còn say tình, khó mà tỉnh, có tỉnh, thì dù có thế nào, cũng vẫn còn vết đau rất khó xóa. Thế cho nên, say rượu chính ra không đáng sợ, cứ uống thôi, miễn đừng uống rượu đểu để ngộ độc hay say đến chết để đi luôn về với tổ tiên, còn say tình, chính ra mới đáng sợ, vì chả biết bao giờ tỉnh, càng tỉnh rồi lại càng vẫn thấy đau trong lòng, vấn đề là chả ai ngăn được say tình.
Đặc biệt và tuyệt vời nhất là khi người ta nâng ly bên người tình, như Trương vô kỵ ngồi đối ẩm bên Triệu Mẫn, hay các cặp trai gái Pháp ngồi với nhau bên ly champagne, ly vang thì không biết người ta say vì men tình hay men rượu, có lẽ vị cay của men rượu hòa với vị ngọt của men tình cả hai quyền vào nhau, để tạo nên sự thăng hoa cho cuộc yêu. Có điều say rượu với người thường thì dễ, với anh còn dễ nữa, vì anh uống kém, còn say tình thì chả biết yêu bao nhiêu là đủ. Nên có khi say rượu trước cả say tình, thì còn làm ăn gì. Nhân hôm uống nhiều rượu, tán nhảm tí. Thái bình, 25/5/2016.