Monday, March 26, 2012

Duyên&Phận

Thực ra anh định viết bài về cái “duyên” giữa chúng ta rất nhiều lần cho em, khi em còn ở trên cõi trần tục này ở bên cạnh anh, mặc dù em ít đọc những gì anh viết, còn giờ đây, khi em đã siêu thoát về Niết Bàn, anh vẫn viết ra, vì anh vẫn muốn ở cõi Phật, em nghe&đọc được những gì anh viết, cũng là để giải tỏa nỗi canh cánh của anh nợ em trên cõi vô thường này, khi rất nhiều thứ anh muốn làm cho em mà anh chưa làm được.

Cách đây chừng 10 năm, khi còn ở Ottawa, anh đi học thiền của GS Vinh, học trò của thầy Thích Nhất Hạnh, bác luôn nói với anh rằng, chữ “duyên” hay lắm, bác thích chữ duyên nên đặt tên cho con gái là Kiều Duyên.

Thực ra lúc đó, anh không nghĩ đến chữ duyên trong Phật pháp, cái chữ duyên của anh nó hơi đơn giản, chỉ nghĩ là phụ nữ, cần có “duyên”, phụ nữ đẹp mà không có “duyên” thì cũng chỉ như ma nơ canh, trong khi rất nhiều người không xinh đẹp, nhưng “duyên”, cái “duyên dáng” ấy nó là là sự trừu tượng, khó có thể định nghĩa được, là sự quyến rũ và thu hút người khác còn cao hơn cả vẻ đẹp ngoại hình.

Còn khi chúng ta gặp nhau, yêu nhau và lấy nhau, anh bắt đầu tin vào duyên phận, chữ duyên trong nhà Phật, cái mà một nhà khoa học rất giỏi nhưng lại ngộ được giáo lý nhà Phật ấy đã cố truyền giảng cho anh, khi đó anh vẫn không hiểu. Lần đầu gặp em, anh chưa bao giờ nghĩ anh sẽ yêu em, vì em không giống với những gì lý trí anh đã từng đặt ra cho người bạn đời của mình, anh cũng chưa bao giờ hỏi rằng liệu anh có cái gì giống với những gì em đã từng nghĩ về người đàn ông của mình, ngọai trừ có lần em nói với anh là em không nghĩ là em sẽ lấy người chồng già như anh :)). Với anh, lần đầu tiên gặp em, chưa bao giờ anh nghĩ anh sẽ yêu em, em không quá ấn tượng về ngoại hình, còn anh là người duy mĩ và khó tính về việc khen ai đẹp. Giữa anh và em còn là môt trời những sự đối lập, anh cầu kì đến mức khó tính, còn em, ít nhất với anh, giản dị nhiều khi anh đến phát bực. Anh thích phụ nữ điệu đà và nữ tính, còn em,đôi khi anh thấy em hơi tomboy. Anh suy nghĩ phức tạp, cầu toàn và đôi khi hơi mơ mộng bao nhiêu, thì em lại suy nghĩ giản đơn và thẳng thắn đến không ngờ, rất thực tế. Anh và em rất ít sở thích chung về ăn uống, và trái ngược hẳn nhau về phong cách thời trang hay lựa chọn màu sắc. Đến ngay cả việc em nói em thích diễn viên nào rồi là biết anh ghét người đó hay ngược lại. Chính vì thế không ít người bạn anh nhìn bên ngoài thấy sự khác biệt giữa anh và em, đã không thể hiểu sao anh và em yêu nhau, đôi khi còn phản đối. Còn em luôn hỏi anh, tại sao anh thích rất nhiều thứ mà em không có, vậy mà anh vẫn yêu em, sao anh không tìm người con gái khác, có những cái mà anh muốn. Anh đã không thể trả lời được. Thực ra, cũng đã rất nhiều lần anh tự hỏi mình câu hỏi giống hệt thế, thậm chí ngay cả trước khi nói anh muốn cưới em. Tất nhiên, em nhân hậu, quan tâm chăm sóc mọi người, hi sinh bản thân mình, nice với tất cả mọi người, ai cũng quý mến em, đó là điều ai cũng biết. Chỉ biết rằng rất nhiều người có những cái mà anh thích, xinh đẹp hơn em ở rất gần xung quanh anh và có cả cảm tình với anh, anh lại không thể có tình cảm như đã có với em. Với anh, tình cảm yêu thương nó cao hơn tất cả mọi thứ tiêu chí khác, vì anh có thể kết bạn với rất nhiều người con gái, nhưng để anh cảm thấy yêu và hiểu anh, thấy “hợp”, thật khó và rất ít. Mà anh thì không thích gò ép tình cảm của mình theo lí trí và luôn sống thật với những gì mình thương yêu. Không hiểu sao, tình cảm của anh đến với em nó tự nhiên như có sư sắp đặt, rất nhiều thứ anh không thể chia sẻ hay thực hiện được với người con gái khác, anh đã có thể dễ dàng làm được với em. Cũng như việc anh tỏ tình với em, nó đến lúc anh cũng không thể ngờ. Khi chúng ta yêu nhau, em tặng anh quyển truyện “ Nhưng câu chuyện Sài gòn” của Phan An, mà tác giả lại là một người anh quen, anh giật mình khi thấy chuyện đó giống anh và em thế, vì anh và tác giả cả ngoài đời và trong truyện, có nhưng suy nghĩ và tâm hồn cảm nhận giống nhau đến không ngờ. Và đôi lúc anh tự hỏi, và lo sợ, liệu câu chuyện của chúng ta sẽ lại có kết thúc như truyện không. Nhưng rồi anh lại trấn an mình ngay, anh và em yêu nhau, vừa giống và vừa khác. Một người bạn thân của em, và rất gần và hiểu anh, trước khi anh gặp em, nói rằng thấy em và anh có điểm gì đó rất chung, có lẽ vì thế mà chúng ta đến được với nhau chăng. Phải chăng đó là cái “duyên”. Anh chỉ cảm nhận được tình cảm yêu thương của anh dành cho em nó rất khác với những gì anh “thích” ở người con gái khác, để cố gắng bù lại những gì anh không thể làm cho em đúng nghĩa mà nhưng người yêu ở gần nhau, người ta có thể làm, khi chúng ta xa nhau. Anh biết, khi yêu anh, em đã phải nhường nhịn anh quá nhiều, chiều theo những ý thích khó tính cầu kì của anh mà em không hẳn là thích, chỉ để làm anh vui. Với rất nhiều người khác, em đều thích làm theo ý mình và rất cứng đầu, vậy mà em đã phải hi sinh rất nhiều thứ theo ý thích của em, chỉ để chiều theo anh, đến việc lớn nhất, là làm ngược với thói thường, đa số mọi người chuyển từ Hà nội vào SG, mọi thứ sẽ thuận lợi hơn với em, và cả công việc của anh, nhưng chỉ vì anh chỉ muốn sống ở HN, em đã chấp nhận ra ngoài Bắc, dù biết rằng việc em xa gia đình, và thích nghi được với cuộc sồng và văn hóa ngoài Bắc sẽ rất khó khăn, khó hơn nhiều so vói việc anh vào và thích nghi với SG.

Yêu được nhau, đấy là “duyên”, còn khi chúng ta thành vợ chồng, người ta bảo đó “nợ”, rất nhiều đôi có duyên nhưng không có “nợ” nên không lấy được nhau. Anh biết là chúng ta vẫn còn nhiều khác biệt và vẫn còn nhiều thứ phải giải quyết, nhưng anh hiểu rằng, em biết những nhược điểm của anh, để chấp nhận nó, và thích những cái gì là thật sự của anh, không phải vẻ hào nhoáng sành điệu bề ngoài, mà là những cái mà thường anh ít bộc lộ ra ngoài, để động viên anh trong những lúc anh cảm thấy bể tắc nhất. Nhưng hơn hết, với em, anh đã có sự cân bằng, để biết kiên nhẫn và chấp nhận hài lòng với những gì mình đang có, nếu không có em, chắc chắn anh sẽ không ở Việt nam đến bây giờ, cũng như việc em thuyết phục anh sẽ ở bên anh ở bất cứ đâu, miễn là anh thấy yêu thích công việc mà anh chọn, để anh có thế tiếp tục tìm kiếm cơ hội ở gần gia đình, khi mà trong lúc khủng hoảng và bế tắc, anh đã muốn quay lại Canada.

Còn giờ đây, khi anh mất em, người khác chỉ biết an ủi anh, “phận” nó thế, “duyên nợ” của chúng ta chỉ ngắn ngủi vậy thôi. Hay như các nhà sư bào rằng, em đã siêu thoát, nhanh chóng rời khỏi cõi trần tục này, là sướng hơn những người ở lại, tiếp tục cuộc sống để tiếp tục gây nên nghiệp tội lỗi. Dù ai nói thế nào, anh chỉ biết rằng anh không còn em trên cõi đời này. Đôi khi anh không tin vào lẽ công bằng hay luật nhân quả của cuộc sống này, vì chả lẽ những gì người ta làm trên cõi đời này, lại phải chờ đến kiếp sau, còn những gì chúng ta phải gánh chịu, chúng ta không thể quyết định được, trong khi đáng lẽ cả hai chúng ta sống tử tế và đều phải xứng đáng được hưởng hạnh phúc dù ngắn ngủi trên trần thế này. Có một điều anh biết rằng, những gì xảy ra, nó đã làm anh thay đổi hẳn suy nghĩ về số phận, số phận nó chả liên quan gì đến tiền bạc, công danh, những thứ đến rồi đi, chỉ còn sự mất mát những người mình yêu thương, sinh, tử,ly biệt là số phận, nó mất đi là vĩnh viễn không thể lấy lại được. Với anh, bây giờ khi anh lại phải tiếp tục sống và tiếp tục hoàn thành nốt những gì là trách nhiệm của mình với những người thân yêu còn lại của chúng ta, thì có những thứ anh lại phải làm lại từ đầu, khi không có em ở bên. Khi anh thấy lý trí con người quá nhỏ nhoi để cưỡng lại số phận, anh vẫn không muốn mình để mặc nó trôi theo những gì mà lí trí mình không thể kiểm soát được, anh không muốn chấp nhận “phận” nếu quả thực nó là như thế. Biết bao giờ để anh có tâm trí mình cảm thấy yên ổn, quyết định được việc mình muốn gì trước rất nhiều ngã rẽ cuộc đời này, khi mà rất nhiều thứ mang lại niềm vui trước đây trở thành vô nghĩa, không còn gì để khiến tâm hồn mỗi khi nghĩ đến em là quặn thắt của anh có thể thấy thích thú hay hạnh phúc. Anh vẫn tin rằng em sẽ ở bên anh những lúc khó khăn anh này, như em đã từng làm, phải không em?

Thái bình, 03/2012

Thursday, May 6, 2010

7x

Anh bắt đầu viết vài dòng linh tinh này nhân dịp di tàu bay, khi mà không ngủ được, phim thì không có, và tiếp viên thì vừa không xinh (để ngắm) mà lại chả thông minh ( để đối xử tử tế với khách), nên nếu những gì anh viết có động chạm đến bạn nào thì nên đổ lỗi cho các bạn tiếp viên của VN airline không chịu cười với anh trên tuyến bay HN-SG nhé. Và lần này là nghĩ về cái sự dở dở ương ương của một số người bạn thế hệ của anh, 7x. chưa viết xong thì blog của cô bạn cùng khóa đã đề cập đến vấn đề này (http://vn.myblog.yahoo.com/quasimodo_7/article?mid=10) và lôi ngay anh vào làm ví dụ của sự “vật vã”, mặc dù anh ko biết có đúng với mình không vì vật vã gì mà cứ tăng cân vù vù.

Phàm đã sinh vào thế hệ 7x , đặc biệt là sinh vào khoảng giữa năm 74-76, là đã thuộc vào thế hệ giao thời, lớn lên trong thời bao cấp ăn bo bo mì hạt học tiếng Nga say sưa mơ được đi đến đất nước của Lenin vĩ đại, đến khi lớn thi chế độ xã hội chủ nghĩa Liên xô sụp đổ, lai phải bỏ dở tiếng Puskin để đi học tiếng Anh, rồi lại vật lộn với kinh tế thị trường từ lúc sơ khai, uống đủ các lọai từ bia cỏ Bách Khoa, bia Vạn Lực tàu đến Napoleon de Cognac, nghĩa là nếm đủ mùi hỉ nộ ái ố. Cái sự lửng lơ giao thời rõ ràng có tác động đến thế hệ 7x.

Chơi với 6x thì thấy các anh bôn sê vích quá, chỉ hơi bất mãn với đường lối chế độ của Đảng tí thì các anh 6x quát, nhưng quay ra chơi với 8x thì các anh lại chả đú theo được , các em thì lại chê các anh/chị già. thế hệ 7x, nửa muốn được phóng khóang, tự do và năng động như thế hệ 8x, thèm được free mind vô tư nhu 9x nhưng tự do quá nhiều lúc các anh lại không chịu nổi nhiệt , vì thực chất cái background của các anh vẫn lại muốn truyền thống như 6x, thế mới gọi là nan giải.

Các anh thích sống cho cái Tôi tự do, nhưng lại không thể dứt bỏ được ý nghĩ đề cao và tôn trọng tình cảm gia đình. Các anh muốn girl friends sành điệu & hot như teen 9x, nhưng lấy vợ lại vẫn muốn partner đủ công dung ngôn hạnh, chịu thương chịu khó có đức hy sinh vì chồng con như thế hệ mẹ hồi xưa, các chị thích người đàn ông của các chị galant, thành đạt, tôn trọng phụ nữ nhưng lại muốn chung thủy như phụ huynh các chị thời bao cấp.

Ấy mà ai lại nhiễm thêm tí Tây học vào thì lại càng phức tạp, các anh được nhồi sọ giáo dục đại học của nền giáo dục mà ai cũng biết thế nào đấy, ra ngòai trộn lẫn với chút ít kiến thức/văn hóa của tư bản tạo nên một mớ hổ lốn, khiến các anh cứ phải băn khoăn vật vã “ở hay về”, ở thì chả thích nghi hòan tòan được với Tây, mà về thì lại chả thích ta. Có những anh gia dinh vợ con đã định cư hẳn ở xứ đảo quốc Sư Tử hơn 10 năm, mà hằng năm vẫn cứ phải đưa vợ con về chỉ để ra bờ Hồ chụp ảnh, còn có những anh ở “bển” cũng lâu lâu, wishky uống như nước suối ở bar với gái Tây, mì tôm ăn quanh năm (theo lời anh kể), nhưng cuối cùng vẫn phải về với máng lợn thi thỏang gò lưng đạp xe exercise lên Bắc Sơn làm cốc bia hơi. Hay tuần vài lần các anh vẫn phải ngồi cafe vỉa hè Nguyễn Du, không biết khi starbuck vao Vietnam với các cháu chân dài 200x thì các anh sẽ còn vật vã đến mức nào nhưng chắc lúc đó thì chả còn thời gian mà suy nghĩ vật vã nữa.

Các anh cứ băn khoăn giữa những conflict of interests thế nên rốt cuộc là các anh chả định nghĩa được cái gì mang lại cho các anh sự thỏa mãn ( the so called happiness) , may ra chỉ đến khi các anh bị dòng đời xô đẩy vì cơm áo gạo tiền chả có thời gian để mà nghĩ ngợi linh tinh thì các anh mới hết vật vã chăng.

Ah, nhân nói hoài cổ anh muốn các bạn anh nghe lại bản nhạc rất nổi tiếng hồi xưa chuyên phát trên đài tiếng nói VN, chắc chỉ có 6x 7x nghe đài, cứ mỗi lần nghe lại nhớ về thời bao cấp nghe các thể loại kể chuyện đêm khuya, những câu chuyện cảnh giác, v.v


Nhưng mà các bạn có thấy bản nhạc này hơi giống tác phẩm Romance từ phim Ruồi Trâu (The Gadfly) của Shostakovich không?



Monday, October 5, 2009

Salad & Rau sống

Sau chục năm ở nước ngoài, trước khi về Hà Nội, tôi đã dự tính sẽ đi ăn một loạt các món mà xa nhà tôi nhớ, nhưng kế hoạch bị phá sản khi có lẽ thời tiết nóng nực, cộng với có lẽ là khẩu vị thay đổi hoặc một lý do vu vơ nào đó đã làm cho mọi thứ tôi muốn ăn tôi không thấy gì ngon. Nhưng có một thứ, gọi là món cũng được mà tôi không thể chán, và dù ăn ở nhà hay lang thang các món vỉa hè Hà Nội, mặc dầu đã được cảnh báo rằng có thể nguy hiểm cho cái hệ tiêu hóa vốn nhạy cảm của người đi xa nhà đã lâu, tôi vẫn cứ phải nhắm mắt vào ăn rau sống. Và tôi chợt liên tưởng giữa hai thứ: salad của nước ngoài và món rau sống Hà Nội.

Tôi vốn thích ăn salad, vì nó dễ ăn, và quan trọng là dễ làm từ bất cứ món rau quả gì sẵn có để làm giảm vị ngậy, vị béo của các món Phương Tây vốn quá nhiều thịt trong các món ăn hằng ngày. Salad có thể làm từ các loại rau củ quả xà lách, cà rốt, súp lơ nhưng cũng có thể bất cứ thứ hoa quả nào khác tùy theo người chế biến. Các loại hoa củ, quả đầy màu sắc được trộn lẫn, và dứt khoát phải thêm sốt (dressing), dressing tạo nên vị khác biệt của các loại salad , cũng là bí quyết cho những người tạo ra các món salad. Vị bùi vị béo của các loại dầu olive, của kem, của pho mát và các loại gia vị tạo nên biết bao loại các loại salad khác nhau. Cũng như bao món Phương Tây, cách bài trí cầu kỳ, chuyên nghiệp của các loại rau quả tạo nên cho món salad như một bản giao hưởng của các loại màu sắc, nhìn bắt mắt và ngon miệng. Người ta có thể ăn salad khai vị trước khi món chính được dọn ra, nhưng cũng có thể là một món ăn độc lập, vì thường luôn trộn kèm với các loại thịt, cá, tôm. Nhưng nhiều khi chỉ là một chút củ quả tươi: súp lơ, cà rốt, với một chút mayonair, người ta cũng có thể nhâm nhi thưởng thức được với rượu vang. Ăn một món salad, ngoài vị tươi sống, dịu mát của rau quả, ta vẫn cảm nhận được vị salad vẫn có một chút béo, bùi đặc trưng.

Còn món rau sống Hà nội, thông thường nó sẽ có rau xà lách, trộn lẫn với các loại rau thơm gia vị, gia giảm tùy loại phụ thuộc món ăn: rau húng, một chút thân chuối non thái mỏng, kinh giới, ngổ đồng, rau muống chẻ, tía tô…. Không màu mè, không bắt mắt, không bài trí cầu kỳ, tất cả chỉ có một màu xanh ngát của rau tươi. Chỉ có vậy thôi nhưng rau sống là món không thể thiếu được trong các món nem, bún nổi tiếng ở Hà Nội, đặc biệt là những món nướng, món rán cũng như trong các bữa cơm thường của món ăn Việt. Tôi đã thử trộn rau xà lách với các vị rau gia vị ở nước ngoài, nhưng vẫn không thể giống rau sống ở nhà, có lẽ vì tại rau húng. Rau húng ở Hà nói có vị thật đặc biệt, dù ngày nay húng Láng chắc không còn hoặc còn rất ít, người ta vẫn cảm thấy sự khác biệt của rau sống Hà Nội nhờ vị rau húng. Rau sống Hà Nội không có dressing nhưng lại không thể thiếu nước chấm. Nước mắm pha để chấm rau sống gần như quyết định chất lượng của các món ăn có rau sống và nước mắm chấm. Vị chua ngọt thanh thanh, không quá mặn, không quá chua, không quá ngọt, điểm xuyết chút cay cay là cả một nghệ thuật pha nước chấm của những người nội trợ và các bà cô bán hàng ăn Hà Nội. Không ai ăn rau sống mà không ăn kèm với bún chả, bún nem, bánh gối.. , vị rau sống làm dịu đi cái béo, cái khô và tinh đầu của những rau gia vị làm tăng hương vị của những món thịt nướng, rán. Tôi không chắc rằng các món salad nước ngoài, khi các đầu bếp chuyên nghiệp làm, họ có để ý đến việc phối hợp các loại rau quả để chúng bổ sung, hỗ trợ hương vị lẫn nhau hay không chắc chắn rằng rau sống Việt Nam từ bao đời nay, việc kết hợp ăn rau thơm khác nhau tương ứng với các món ăn khác nhau đều tuân theo nguyên lý "âm dương ", tương sinh, chế hóa lẫn nhau, góp phần làm giảm tác hại và gia tăng hương vị cho món ăn. Và mỗi món ăn dường như gắn với một loại rau thơm đặc trưng trong món rau sống, thiếu nó thì không thành vị: đậu phụ rán với kinh giới, thịt chó với lá mơ, canh cá với thìa là, riếp cá… Chính vì thế nên món rau sống nó gắn bó với món ăn Việt, nó cũng bình dị như người Việt thường tự nhận về mình, so sánh với cái cầu kỳ, đẹp đẽ của món salad. Phải chăng tâm hồn Việt nhẹ nhàng tạo ra món thanh đạm hay những món ăn đó tạo nên tâm hồn người Việt dân giã, bình dị nhưng cũng thật sâu sắc.

Tôi không định so sánh salad với rau sống để xem thích ăn món nào hơn, đơn giản vì mọi sự so sánh đều khập khiễng, mỗi món ăn đều là phản ánh văn hóa và tâm hồn của những vùng đất khác nhau, mang hương vị khác nhau. Chỉ biết rằng tâm hồn Việt xa quê luôn nhớ vị rau sống trong mỗi bữa ăn Việt, để cảm nhận vị thanh thoát, nhẹ nhàng, cái ngọt ngào của quê hương thì vẫn thi thoảng nhớ món salad bùi bùi, béo ngậy và đẹp đẽ, như một bên là cội nguồn quê hương không thể quên và bên kia là những gì đã trải qua, đã gắn bó.
Hà Nội, tháng 10/2009
Lưu Tuấn Anh

Monday, August 10, 2009

Review&Credit

Không biết từ bao giờ, sau gần 10 năm xa nhà, tôi phát hiện ra mình bị ảnh hưởng bởi văn hóa “đặc trưng"Mỹ trong việc mua bán một cách vô thức. Và tôi tự hỏi đây là một xu hướng bán hàng và phục vụ khách hàng tất yếu của xã hội hiện đại hay là thói quen không tốt của nền văn hóa tiêu thụ nước Mỹ?
Ngày nay, việc mua hàng qua mạng đã trở nên phổ biến, và đại đa số việc mua hàng của tôi và rất nhiều người dân Bắc Mỹ đều dựa trên “review” và “credit”. Mua bất cứ cái gì, cũng phải xem ”review” tức là những phản hồi đánh giá của những người đã mua và sử dụng về sản phẩm. Ở Việt Nam khi mà đa số việc mua hàng hoá theo kiểu truyền miệng, thì ở những nơi thị trường cạnh tranh cao, khi có quá nhiều sản phẩm của các nhà sản xuất khác nhau cùng cạnh tranh, người ta không biết làm thế nào để chọn trong hàng trăm sản phẩm cùng loại khi mà cái nào quảng cáo cũng hay cũng tốt, người mua đành phải dựa trên những nhận xét của các khách hàng đã dùng trước. Điều đó rất có lợi cho người mua khi được nghe ý kiến của những người đã có kinh nghiệm. Với những hàng hoá thông thường thì điều này đặc biệt có ích, vì đại đa số ưu nhược điểm là giống nhau với mọi người. Còn những thứ mà thuộc về sở thích của từng người, một cách nhìn khác nhau, thì việc đánh giá trở nên khó khăn hơn nhiều nhưng bù lại, với đánh giá của số đông, thì việc có một khái niệm tương đối về ưu nhược điểm của sản phẩm một cách khách quan là điều người ta có thể đánh giá được xem có phù hợp với nhu cầu của mình. Càng ngày việc bán hàng trực tuyến càng trở nên phổ biến và tiện lợi, thì việc “review” càng phát triển nhờ internet. Nhà bán hàng trực tuyến nổi tiếng Amazon được khách hàng đặc biệt ưa chuộng và thành công cũng nhờ điều này. Cùng với việc nhận xét của người dùng, luôn có thể tìm được những ý kiến đánh giá những sản phẩm khác thông qua các ý kiến của các chuyên gia. Trong một thị trường phát triển như Mỹ, điều này khiến cho việc mua hàng trở nên dễ dàng hơn nhiều. Phải chăng đó cũng là sự phát triển tất yếu khi những thị trường nhỏ bé như Việt Nam ngày càng mở rộng và phong phú hơn.
Nhiều mặt hàng, những đồng thời cũng rất nhiều người bán hàng. Vậy thì người mua hàng biết mua của ai trong hàng triệu người bán, với những mức gíá rất khác nhau cho cùng một sản phẩm. Cũng phải xem “credit history“, hay đó chinh là “uy tín” của ngừoi bán hàng. Đó là những đánh giá về chất lượng phục vụ, hậu mãi, chất lượng hàng hóa bán ra, giá cả. Chính những điều này tạo nên một dạng thương hiệu của những người bán hàng. Những cửa hàng nào càng nhiều đánh giá tốt và ít phản hồi xấu thì càng có uy tín. Những người bán hàng bị nhiều khách hàng đánh giá thấp (bad credit ) sẽ không thể bán được hàng, làm cho người bán phải cố gắng phục vụ khách hàng thật tốt. Người ta sẽ chỉ tin tưởng vào những của hàng có nhiều khách mua và đánh giá phản hồi tốt. Hiện tượng lừa đảo mạo danh khách hàng của người bán để có credit tốt cũng xảy ra nhưng rồi sớm hay muộn cũng sẽ bị phát hiện. Ebay là một trong những ví dụ điển hình của mô hình “credit” cho người bán. Và càng ngày khi thương mại điện tử càng phát triển, thì việc phản hồi của khách hàng càng thuận lợi hơn.
Việc phản hồi và đánh giá trong mua bán không chỉ xuất hiện từ khi hình thành và phát triển internet và thương mại điện tử mà người dân ở xã hội Phương Tây đã có truyền thống này từ rất lâu. Sách hướng dẫn về du lịch, ẩm thực là những hình thức khá phổ biến của văn hóa “review”. Đánh giá theo từng mức của các nhà hàng, được không chỉ những sách báo liên tục cập nhật theo từng năm, mà còn được chính những khách hàng từ đưa lên internet. Việc đánh giá và phản hồi không chỉ đơn thuần là phê bình hay quảng cáo cho những nhà sản xuất, người bán hàng hay các nhà hàng, mà sẽ làm cho người bán, hay nhà sản xuất biết được những điểm mạnh điểm yếu của sản phẩm để khắc phục và làm tốt hơn. Việc “review” định kỳ cũng sẽ khiến cho những người cung cấp luôn có ý thức giữ gìn cải thiện hàng hoá chất lượng dịch vụ của mình, khắc phục những điều chưa tốt. Trong ý thức của người tiêu dùng, người ta sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm của mình với người khác, coi đó như một hình thức tự nguyện đóng góp cho cộng đồng.
Người Việt Nam, vốn tự hào là có những quán ăn ngon nổi tiếng, nhưng đã có bao giờ đã có những đánh giá hay những phản hồi về chất lượng các món ăn, thái độ phục vụ, giá cả hay chỉ là những câu truyền miệng rỉ tai? Liệu quán ăn này ngon nhưng lúc đông khách, họ có làm giảm chất lượng đi không, hay là chất lượng năm nay và năm sau kém đi hay tốt lên? Liệu chúng ta có những đánh giá, hướng dẫn để những người lạ, khách du lịch đến Hà nội cũng biết chỗ nào đi ăn hợp với gu và vừa túi tiền của họ? Đơn giản là chúng ta chưa hoặc có rất ít một văn hóa “review” như vậy.
Chúng ta bị mua phải hàng rởm, hay dịch vụ chưa tốt, không có thói quen đấu tranh, “ ngậm bồ hòn làm ngọt”, “ dĩ hòa vi quý ” có lẽ là đức tính cả tốt và xấu của người Việt. Bằng “review”, có thể chúng ta vẫn phải chấp nhận những sản phẩm đã mua, nhưng ít nhất cũng để cho những người đi sau tránh được những sai lầm của mình đã mắc. Ý thức đấu tranh không chỉ cho mình, mà còn vì cộng đồng và ngược lại, những gì mình làm cho cộng đồng tuy không được hưởng lợi trực tiếp nhưng sẽ được hưởng lợi từ chính những đóng góp từ những người khác về sau. Có lẽ chúng ta chưa có ý thức để bảo vệ và đấu tranh cho quyền lợi chính đáng của mình với tư cách người tiêu dùng nên rất nhiều người nhẫn nhịn để chịu ăn “ cháo chửi”, “ bún mắng”, “ phở quát”, hay chịu những gì mà Honda Việt nam và đại lý của họ đang làm. Chỉ cần mọi người đều tôn trọng chính mình, có ý thức đấu tranh, đồng loạt kiên quyết tẩy chay những người bán hàng hay sản phẩm như thế, tự khắc những người bán hàng hay những người sản xuất không sớm thì muộn sẽ buộc phải thay đổi thái độ. Chính điều đó sẽ thay đổi cách nghĩ và văn hóa của người bán hàng. Không hy vọng một sớm một chiều có thể thay đổi, khi còn đầy rẫy những độc quyền và ít sự cạnh tranh, nhưng ít nhất hiểu rõ và biết bảo về quyền lợi của mình, sẽ là những tiền đề để có một sự phục vụ tốt hơn.
Ai cũng mong muốn có được điều tốt đẹp, nhưng điều tốt đẹp sẽ chẳng bao giờ tự đến nếu chỉ mong muốn mà không đấu tranh và tìm cách để có nó. Cũng như chúng ta không bao giờ hy vọng những người cung cấp hàng hoá dịch vụ tự nguyện làm ra những sản phẩm tốt, nếu không lên tiếng cho họ biết những gì mình muốn. Và đôi khi những điều tưởng chừng khó khăn và to tát đó lại bắt đầu từ ý thức tự nguyện đóng góp cho cộng đồng bằng những việc rất nhỏ như “review”.

Calgary 02/2009
(http://www.sgtt.com.vn/Detail33.aspx?ColumnId=33&NewsId=54490&fld=HTMG/2009/0721/54490)

Sunday, July 19, 2009

Hàng hiệu


Hình như c đến dp tháng 7 là mùa shopping vì là mùa summer sale, cũng như sau Giáng sinh sale cho mùa đông, nói chung là gim giá nhiu th nhưng sale nhiu nht vn qun áo giày dép nghĩa là đ thi trang. Tt c mi người, già tr gái trai nô nc đi sm hàng, t qun áo cht đng vào vn c phi mua theo phong trào, vì kiu gì c sale là phi mua, nó như thành tp quán, mt th shopping addict. Không cn cũng mua, mua vì nó r.

Sau mt ngày do ph h tng người nhà shopping ngm thiên h street sale trên St Catherine, ngày gim giá ln nht ca khu ph ni tiếng nht Montreal , kết qu cui cùng là ngân sách thâm ht trên dưới 200$ trong đó mt na gift, nghĩa là mình năm nay cc kỳ kim chế, mc dù đã đnh th (may quá không có cá trê chui ng) là không mua gì vì gi phi v nhà vi 3-4 vali qun áo giày dép, mà vn phi dt rut vt li gn chc đôi giày vi vài vali qun áo li, jeans chc cái đ các loi ri quá na còn chưa ct gu, áo sơ mi áo polo thì mi lai cũng vài chc chiếc ri. Tt nhiên có lý do th hai là tht nghip sp phá sn, ba là, mà lý do này mi gi là t hi, phát hin ra mt thói rt xu khi mua qun áo, mt là ch mua khi cc r không th cưỡng li ni, mua không mc s đi tng hoc bán làm t thin hai là ch ngó hàng mình thích, sale ít cũng mua, còn hàng lìu tìu thì r cũng chng mua, mà hàng thích thì li toàn là cái mà ngoi ta gi là "hiu". Mà hình như xu hướng sau ngày càng thng thế. Thi gian thay đi tính cách hay là trong mình naturally tn ti mâu thun ca mt k bình thường bn cht là gin d nhưng li thi thong ni hng bt cht k tính và cu kỳ hơn bình thường, chc tui già ri nó thế.

Cái thi khi chưa bt đu bước chân ra khi VN năm 2000, thì khi qun áo vn ch đo là áo sơ mi rng thùng thình ca may 10, An phước, Vit Tiến, vina giy thi thong có đ hay hàng mua GMC đã thy ngon ri, thì đnh cao ca thi trang ch là đ Pierre Cardin , vi li xem đ các bn Dunhill nhìn lên TV vi bn nhc blue danube (các bn 7x chc vn còn nh), đã nghe đã thy nhưng chưa nếm vì đt quá, ch dám dùng. Complete thì may sn Nhà Bè hình như có 600 nghìn hay cùng lm là Phú Hưng Tiến Thành ch không dám Cao Minh.

Trong my năm đu bên x kinh đô ca Gia Nã Đi, thi trang ch đo vn là áo nhp khu t VN trong hai vali xách sang dùng mãi không hết, hoc cũng lm là áo đ GAP hay Tommy mua dp boxing day, c nghĩ Chaps Ralph Lauren vi Ralph lauren cũng là Lauren c, chưa nói là biết phân bit black label, purple label nó khác nhau thế nào . Cũng không biết thế nào là sơ mi hay suits fit cho đúng kiểu. Hình tượng nông dân nhà quê cày trên đường nha chính hiu, ăn mc xunh xoàng không bao gi biết là qun áo (nh là h) t gi trch đi mt cách lch s ca “hai lúa”, vn không mt đi.

Theo như mt nghiên cu, thì s phi mt 15 năm đ ci to mt trc phú Nga có tác phong mt quystock Anh nếu được rèn luyn, như vy bn cht nông dân giản dị tunh toàng cu th annamit thì s muôn đi không thay đi , khi có chưa đến 10 năm sng x Canada vn đã ăn mc xu vãi hàng so vi châu Âu. nhng thói hư tt xu thích hàng hiu nếu có thì vn c b nhim ch là do hoàn cnh xô đy. Biết đâu v li Vit Nam s quay tr li được vi sơ mi va hè hay suits made in Lng Sơn.

T nhiên nghĩ xem đ hiu nó là cái kh gì nhi mà li hp dn người ta thế nh, đ người ta phi móc túi mt đng tin ra cho hàng hiu mà nhiu người tht lên: điên. Hình như khái nim đ hiu cũng không rõ ràng lm. Có mt s người tng tt c các loi fashion brand vào làm hàng hiu. Vì thế nên các th loi tommy hilfilger, mexx, esprit, mango, Zara cũng được coi là đ hiu trong khi mt s người bĩu môi bo nhng brand này ch là casual clothing. Tt nhiên cũng có casual clothing va đp va đt nhưng mà hãng casual thì li không đc đáo v design, “đng hàng” nhiu quá. Nó ging ht kiu ch em ph n Hà ni theo phong trào thi trang TV, thy din viên x Kim Chi có cái váy đp là ít lâu sau t qun áo ca ch em ai cũng có cái như thế, trên đường ai cũng ging ai. Cũng có nhng người bo các th loi Guess by Marciano, CK black label, , United colors of benetton ch có Sisley collection cũng có th đưa vào đ hiu nhưng nhng người khó tính thì bo đ hiu, phi là Luxury Fashion brand, hay nói chính xác hơn là premium high end designer kiu hàng bán trong Sask Fifth Ave, Neiman Marcus hay Eluxury. Hay như Levis cc kỳ ni tiếng v jeans là thế, nhng bo đ jeans hàng hiu, thì chc chn phi là Rock& Republic, Diesel, Citizen’s of humanity, ch dt khoát không th là qun 501 Levi’s hay Tommy Hilfilger cho dân chăn bò Calgary được. Vic đ hiu đinh nghĩa đúng là tùy quan nim, và trình đ và ..túi tin ca tng người.

L dĩ nhiên, đ hiu là đt, thế nhưng có phi là c đ hiu đt tin là đp. Không ít mt s người mua hàng hiu hp dn bi qung cáo. Các siêu sao hay người mu, bn thân người h đp, mc bao ti cũng đp, nên khi h mc đ hiu dưới bàn tay thn kỳ ca công ngh make up thì ch biết là đ hiu làm h đp hơn hay là h làm đ hiu ni tiếng hơn. Có l c hai tôn nhau lên nên đã c o tưởng là mình mc đ hiu vào cũng đp như các siêu sao. Thy các siêu sao holywood đ xô vào Raw denim jeans, th là các nhãn hiu ni tiếng ca sao mc: 1921, nudie, 7 of all mandkind, đua nhau được mua.

Mt s ngoi thì lí lun là cht liu, kiu dáng ngon ch có đ hiu mi có. Hin nhiên đắt và đi kèm vi nó thông thường là cht lượng thì khi bàn: cht vi, k thut may và đc bit là thiết kế. Nhưng đi béo lùn hay bng ph mt người bình thường khoác lên high-end designer, dĩ nhiên không phi lúc nào cũng đp. người dp lép như cái ko khoác sơ mi Moschino hay đã hay ghét th thao ưa th dc li thích mc slim fit AX đ khoe cái bng như trng thì trông càng l bch. Thế nên trước hết “ fit” và “match” hình dáng người mc là tiêu chí quan trng hơn là brand, nhiu người còn giu đi brand đ hiu ca mình đang mc, ch nhng người tinh ý mi biết. H mc đ hiu đ h nâng giá tr ca mình lên trong ý nghĩ ca chính mình, take care bn thân và cm thy t tin hơn. Mà nói thng ra là đa phn "t sướng". Tt nhiên ai cũng mun “match”, nhng phù hp thế nào con tùy văn hóa và gout ăn mc ca người mua. Nhưng gu gì thì gì, qun áo giày đp trước hết nó phi thoi mái, t tin và nếu đ giu đi nhng nhược đim ca người mc na thì càng tt. Trong lùn thì s thy đ thp hơn, gy trông đ que ci đi hay tròn thì s slim hơn. Bi mc đích cui cùng ca thi trang là làm cho người ta “đp” hơn. Đa s đ hiu , vi nice cut, cht liu vi ngon lành, li được bn bán hàng chuyên nghip tư vn trong các ca hàng xn, tt nhiên s làm người ta đp ra, vn đ ch là “đu tiên” thôi.

Nhưng như thế thì nhiu người cũng cãi người ta s đi may dng MTM (made to measure) là n, chc chn ch cn mt th may gii, chn cht liu vi tt không cn đến high end designer, vn đ tiêu chun va và đp. Mà li r hơn rt nhiu. bi nhiu người vn không th chu ni cái giá cao vô lý ca đ hiu. Vì thế mt s người dùng hàng hiu, là đ h khng đnh đng cp? Có mt s nhng đi trc phú c khoác bt c cái gì lên vi cái mác to t b Gucci, Versace là đ khoe mình classy vi thiên h ri. Đng cp (chng t) lm tin hay sành điu thì tt nhiên ri, nhưng dường như bao gi ca các high end desinger cũng theo mt phong cách riêng ca h, và vì thế nhng người mua đ ca h dng thưong lưu không gì khác là vì thích style đó, mun khng đnh mình theo phong cách ca designer, hay ch ít là cũng phù hp vi tính cách ca người mua. Vì thế nên có nhng người trung thành ch vi mt vài brand “rut”. H biết h thích style nào, phù hp vi h, đ c theo nó mãi. Ph n có th thay đi nhiu, nhng đàn ông thì rt ít.

Nhưng có mt s ln ngoi mua hàng hiu li là tng hp h ln cái lí do trên, ch phân bit được do là thích khoe, hay là vì đp, hay là vì mun to phong cách nuveau rich, nhưng mt nguyên nhân chính na là do sale. Không biết là may hay không may cho nhng k thích hàng hiu, thi thong cũng có nhng đt hàng hiu sale. Có th sale đến 40-50% hay đôi khi đến 70-80%. Và vì thế nhng k ít tin hơn , nhưng vn có th có cơ hi xài hàng hiu. Và thú vui shopping mua hàng hiu, cũng là mt cách gii ta stress cc tt, bun, shopping, vui, shopping. Người ta s sung sướng âm khi mua được hàng hiu giá r bt ng, đp và phù hp vi người mình, đ được mũi n ra như chú h Tiến Mnh khi có mt k khác trm tr khen "stylish". Có li gì không khi người ta mun làm mình đp lên, t tin hơn, lch s hơn bng hàng hiu. Vn đ là trong kh năng cho phép, h vn mua được nhng gì mình thích, mình cn và phù hp vi mình thì ch bao gi là trc phú c. Mua hàng hiu mt cách chn lc, s thích thú hơn vác tin ra mua mt đng v. Tt nhiên dính vào hàng hiu là nghin, vì có ai mà không thích đp, thích khoe. Nhưng cái quan trng là biết khi nào dng, cái đó mi kh, vì khi nghin c nhìn thy đp, là li ni máu thèm, thì người ta li phi “nghiến răng”. Và thế là tuy “r”, tuy "mega sale" nhưng credit card vn c tăng lên vèo vèo.

Vì thế nên nhiu lúc nghĩ là trúng lôtô đi, đ thành triu phú, lúc y khi phi lo không tin mua đ hiu. Nhưng mà đến lúc thành triu phú ri , thì mc qun bò rách như lão ch DHL Larry Hillblom, cũng vn th hin “đng cp” như thường, thì cn quái gì đó hiu h tri?